Nguyễn Huệ, năm sinh: 1944, quê quán: Kỳ Anh, Hà Tĩnh, Kỹ sư trắc địa, nguyên Ủy viên Hội đồng KHKT, Liên đoàn Địa chất 36.

Khi cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ lên đến gần tột đỉnh, thì cũng là lúc Liên Đoàn 36 cần tiến hành định vị các giếng khoan sâu trên 3000 mét, để xác định chính xác chiều sâu các cấu tạo địa chất, đặt giếng khoan thông số. Nhận được chỉ thị của cấp trên, các phòng địa vật lý, địa chất, trắc địa bản đồ phối hợp thành lập một đoàn công tác đi xác định vị trí giếng khoan. Suốt mấy tuần chúng tôi chuẩn bị vất vả. Tất cả các tài liệu liên quan đều được đem ra phân tích lại, trao đổi ý kiến giữa các phòng và tham khảo ý kiến của đoàn chuyên gia cố vấn Liên Xô thật cẩn trọng. Vào một đêm tháng sáu oi bức, chúng tôi được thông báo: chiều mai đoàn sẽ đi làm công tác định vị giếng khoan thông số. Dạo ấy đêm nào cũng có máy bay Mỹ bay dọc sông Hồng, cũng có lúc chúng xuất hiện vào buổi sáng, thường hay hoạt động nhất là loại ném bom tọa độ. Để thực hiện tốt nhiệm vụ vừa sản xuất, vừa chiến đấu, Đảng đoàn cơ quan đã tổ chức bộ phận trực chiến. Đêm qua, tôi và anh em kỹ thuật (Lê Văn Thành, Hoàng Xuân Bản, Nguyễn Duy Luân, Hà Quốc Quân và nnk…) đã trực chiến trên đoạn bờ đê sông Hồng, gần Hồ bán nguyệt. Từ chiến hào trở về, tạm biệt những người bạn trai gái thân thương và những khẩu súng trường, tiểu liên…, chúng tôi lên đường làm nhiệm vụ định vị các giếng khoan. Buổi chiều hôm đó âm u, có cơn mưa rào nhỏ, chúng tôi tranh thủ xuất phát sớm trước 5 giờ chiều. Đoàn chúng tôi khởi hành từ chợ Gạo, đi đến bến xe thị xã Hưng Yên thì rẽ về phà bến Mới, qua thị xã Thái Bình, vượt phà Tân Đệ qua thành phố Nam Định đi Xuân Thủy.

Sở dĩ chúng tôi phải đi vào ban đêm, vì mới tháng trước trong đêm làm nhiệm vụ trực chiến của đơn vị chúng tôi, vào lúc gần sáng thì máy bay giặc Mỹ đã dội bom thị xã Hưng Yên. Thật dã man! Chúng tấn công vào khu trung tâm dân cư nằm giữa thị xã dọc đường 39 vào lúc giấc ngủ còn rất say. Cuộc tấn công của chúng kéo dài đến sáng sớm mới chấm dứt. Hôm ấy trận địa trực chiến của chúng tôi bắn trả dữ dội. Trận địa trực chiến nằm trên một nghĩa địa cách thị xã tầm một cây số, gần chỗ xưởng may Mười sơ tán, và cách chợ Gạo - chỗ cơ quan chúng tôi đóng chừng hơn 2 cây số. Sáng hôm sau, khi cuộc oanh kích của giặc Mỹ đã kết thúc, tôi vào thăm thị xã trong nỗi niềm đau xót và xúc động. Thị xã bị tàn phá thảm thương, tất cả đều bị bom đạn giặc tàn phá, hơn 50 người dân lành bị giết hại, trong đó có những cô gái chưa tròn mười bảy đẹp như bông hoa đồng nội, có cả những em bé sơ sinh và cụ già. Nhìn sang phía đối diện, nơi có nhà hàng Tam Đa cũng bị bom lửa Mỹ tàn phá, tôi rưng rưng không cầm nổi nước mắt. Tôi nhớ mới vừa hôm nào đó cách đây không lâu, khi được lên mức lương khởi điểm 63 đồng, các bạn trong phòng kỹ thuật đã cùng tôi đến Tam Đa thưởng thức chén rượu Trương Xá, bát phở tái bò gia truyền cực ngon và món thịt gà Đông Cảo tiến Vua. Anh bạn Phan Huy Quynh, nhà cổ sinh học uyên thâm, nói với chúng tôi rằng: lên 63 Tam Đa gọi, đến 73 gọi Tam Đa. Văn Bản chữa lại: "Ông Quynh được lên lương 73/ Ông Tam Đa nhìn Ông Quynh cười". Tất cả chúng tôi đều cười vang vì câu nói đó; nhưng tôi thì vẫn chạnh lòng nghĩ đến mấy người bạn của mình: chỉ thiếu vài tháng mà không được lên 63, họ chịu thiệt thòi, đành chờ đến hẹn lại lên…

Đoàn công tác qua phà bến Mới lặng lẽ, bình yên khi trời chập choạng. Đoàn gồm có một chiếc xe com-măng-ca đít tròn của trưởng đoàn, gồm: trưởng phòng kế hoạch, tài chính và chuyên viên. Còn chiếc nữa là đít vuông, mang nhãn hiệu Ru-ma-ni dành cho các trưởng phòng kỹ thuật địa vật lý, địa chất và các kỹ sư chuyên ngành khác. Khoảng hơn bảy giờ tối chúng tôi đã đợi vượt phà Tân Đệ, vậy mà hơn tám giờ mới được lên phà sang sông nhờ đủ mọi giấy tờ ưu tiên, và nhờ có "chuyên gia" Phan Minh Bich "cao hơn ta, gầy hơn Tây" luôn xì xồ tiếng Nga. Xe lên khỏi phà, chúng tôi vội vã vượt qua thành phố Nam Định để tránh giờ cao điểm của máy bay đánh bom tọa độ ban đêm. Vừa qua chùa Cổ Lễ thì gặp một chiếc xe ngựa bị trượt bánh xuống cái hố nhỏ ở vệ đường chắn ngang, vì trời tối khi dừng lại do báo động tránh bom. Muốn vượt lên trước, chúng tôi đành phải đẩy xe ngựa. Tất cả anh em đều nhẩy xuống, ì ạch đẩy xe ngựa để lấy đường hành quân cho kịp chương trình đã định. Gần mười giờ đêm, chúng tôi đến bến phà Lạc Quần, chờ qua phà đi về xã Giao Hải nghỉ ngơi, sáng sớm mai định vị giếng khoan LK-106. Trong lúc đang đợi qua bến phà, có một kỷ niệm cực kỳ thú vị mà suốt cả cuộc đời, tôi không bao giờ quên được khi đi làm dầu khí ở cái thuở ban đầu lưu luyến bâng khuâng. Xin kể lại trung thành với thế hệ kế tiếp tương lai, để các bạn cùng suy ngẫm về thế hệ đã qua.

Đang trò chuyện vui vẻ trên bến Lạc Quần, thì kẻng báo động có máy bay tọa độ vang lên, chúng tôi rời xe chạy tìm hầm sơ tán. Mọi người không ai hoảng loạn, nhưng cũng rất lo âu, tất cả tài liệu đều theo chúng tôi vào hầm trú ẩn. Tôi nghe tiếng máy bay ràn rạt vút qua và một tiếng bom nổ ở tầm xa, rồi sau đó im bặt. Thật là may mắn, mọi hoạt động trở lại bình thường. Sau đó, phía bến phà thông báo cho xe chúng tôi qua sông. Qua bến Lạc Quần chúng tôi vội vã lên xe và xe chuyển bánh ngay. Xe chạy đêm trong ánh sáng của đèn gầm nên tốc độ chậm. Trong chuyến đi này tôi được anh Thiệu cử làm quản gia, chăm lo cơm nước cho mọi người, nên tôi lên tiếng hỏi anh bạn lái xe có đói không? Tất cả mọi người đều bảo không vấn đề gì, vì chiều nay chúng ta vừa ghé qua thăm khách sạn cầu Bo của Thái Bình, vốn nổi tiếng ăn uống tốt thời chiến cơ mà. Chợt anh Hoài - phó đoàn kỹ thuật lên tiếng, nếu cần nghỉ giải lao thì chúng ta sẽ vào nghỉ chân ở trạm địa chấn gần nhà thờ Bùi Chu. Tất cả đều đồng thanh đi nhanh cho kịp công việc của ngày mai. Anh Hoài chuyển hướng sang văn nghệ bằng một câu đối dí dỏm để mọi người vui vẻ và đỡ phần buồn ngủ. Anh thong thả vào đề mời mọi người cùng đối, rồi câu đối của anh vang lên: "Đến Lạc Quần, quần lạc". Tất cả chúng tôi đều thở phào khoan khoái nhẹ nhõm, vì câu đối nằm ngoài tư duy nghề nghiệp, nó chỉ phần nào hài hước của sự náo loạn chạy bom. Sau vài phút im lặng đăm chiêu bỗng anh Lê Hưng, kỹ sư địa chất lên tiếng: "Rời Hưng Yên, yên vị". Mọi người đều vui cười tán thưởng. Chợt anh Khuông phó phòng địa chất cất cao giọng: "Qua Nam Định, định chuồn". Vỗ tay. Lúc này không khí trong chiếc xe chở các nhà kỹ thuật thật là vui vẻ, hào hứng, ai cũng muốn góp câu đối của mình. Chợt anh Toản bí thư chi bộ của khối kỹ thuật, nãy giờ ngồi lặng lẽ trầm ngâm, bỗng cười khề khề lên tiếng: "Đặt lỗ khoan, khoan đặt". Khi câu đối vang lên, tất cả đều im bặt.

Tôi là người ít tuổi nhất trong đoàn công tác, hay cười, có biết võ vẽ chút thơ đường và câu đối cũng lặng lẽ vái chào câu đối chuẩn, vội nghĩ thầm chuyến đi này khó thành công. Tất cả mọi người lặng im, sau đó dường như chìm vào giấc ngủ. Tôi cũng gật gù trong suy nghĩ, có lẽ đợt này về, dân trắc địa nhà mình còn vất vả lắm đây. Đêm quá khuya chúng tôi đã đến địa điểm tập kết. Tất cả mọi người đã quên hết những nguy hiểm dọc đường, và đều hào hứng thưởng thức chén rượu hương quê với bát cháo gà nấu vội. Tất cả những ngày sau đó của chuyến đi đều hoàn toàn thuận lợi, chỉ có điều là kết quả của chuyến đi chỉ là để tham khảo.

Quả vậy, suốt 6 tháng sau khi trở về từ chuyến đi ấy, chúng tôi đã phải cùng đồng chí chuyên gia Tai-pôv xuống các đoàn Điện (36Đ), đoàn địa chấn (36F), phối hợp với anh Hoa và anh Chánh tổ chức tổ kiểm tra, kết hợp với quân của anh Cầu bên điện và quân của anh Tuấn bên địa chấn, thực thi kiểm tra bằng hai phương pháp Dòng điện trực giao và phương pháp Dò điểm sâu chung trên các cấu tạo điện và địa vật lý. Kết quả phân tích của các phương pháp mới cũng phù hợp với kết quả ban đầu. Lúc đó tôi chạnh lòng suy nghĩ, dẫu phương pháp nào đi nữa, nhưng máy móc ở thế hệ lạc hậu thì chẳng thế nào đưa đến được điều gì mới mẻ hơn. Thôi thì đành chấp nhận "con gà hơn nhau tiếng gáy", mình đã cố gắng làm hết bổn phận. Hơn một tháng sau, cuộc họp khoa học kỹ thuật của đoàn địa vật lý 36 được tổ chức, nhiều báo cáo được đưa ra gây nhiều tranh cãi, nhiều kết luận có giá trị được chốt lại. Thế rồi sau cuộc họp mấy hôm, giếng khoan 3000 mét ở Tiên Hưng, giếng khoan 5000 mét ở Phủ Cừ đều được định vị chắc chắn trên các cấu tạo của vùng trũng Hà Nội. Mấy năm sau, kết quả khoan sâu đã cho thông số chính xác về đứt gãy Sông Hồng tương ứng với những điều mà các nhà địa chất và địa vật lý đoàn 36 đã khẳng định.

Năm ngoái, sau hơn ba mươi năm, tôi gặp lại một đôi mắt thông minh và nụ cười cởi mở của kỹ sư - nhà thơ Hoàng Xuân Bản tại nhà tôi, Hà Nội. Chúng tôi chưa kịp cùng hàn huyên về một thời để nhớ, anh lại vội vã về Vũng Tàu ngay. Tôi không thể nào quên được đôi mắt và nụ cười của anh, vì đôi mắt và nụ cười ấy đã từng say sưa đọc cho tôi, em Nhưỡng, em Thái, và các bạn bè cơ quan nghe những vần thơ của mình trên trận địa trực chiến và vào những đêm trực gác cơ quan. Đôi mắt và nụ cười tươi ấy tôi lại gặp, khi đọc tác phẩm "Nước Nga xa & gần" của anh trên mạng.

Mới ngày hôm kia, khi tôi và người bạn thân của tôi - mà Văn Bản chưa hề quen biết, gọi điện chúc mừng anh về tác phẩm tuyệt vời này, anh cảm ơn chúng tôi và vui vẻ mời tôi viết vài trang về kỷ niệm sâu sắc nhất của mình trong cuộc đời Dầu Khí. Tôi nhận lời và vô cùng cảm động. Tôi xin viết ra đây đôi dòng, gọi là cảm ơn anh - Nhà thơ Văn Bản, cũng là lời tri ân gửi tới tất cả bạn bè đã từng làm việc cùng chúng tôi tại Chợ Gạo, Liên đoàn 36 – khởi nguồn của ngành Dầu Khí Việt Nam, vào những năm tháng không thể nào quên.

Hà Nội, 22/06/2010