Nhiều nhà địa chất nói rằng địa-vật lý là tai mắt của họ. Nói vậy cũng đã là hơi quá, vì những người làm công tác địa-vật lý chỉ muốn góp một tay trong việc tìm dầu mà thôi, đâu dám là tai mắt của những người tài ba vốn được nhận chức danh "ăn cơm nhân gian, nói chuyện âm phủ". Vậy mà cách đây vài năm, có tác giả vốn làm khai thác dầu đã viết bài "nói chuyện với lòng đất" làm cho nhiều độc giả vừa khâm phục, vừa nghi vấn.
Vậy thực chất của vấn đề là thế nào?
Là người trong cuộc, chúng tôi biết được nhiều điều mà có thể độc giả chưa hề hay biết.
Là XN nhỏ, chuyên làm công tác phục vụ cho khoan và các nhà địa chất, nhưng sau thiết kế - dựng giàn và khoan mở giếng, nếu không có đo địa-vật lý thì sẽ chẳng có một thông tin nào về giếng khoan, nói rộng hơn cũng có nghĩa là lòng đất vẫn câm lặng. Điều này đủ cho thấy ĐVL đóng vai trò quan trọng trong toàn bộ các khâu sản xuất chính của XNLD, nghĩa là trong giao tiếp giữa đất với người. Chỉ có địa-vật lý GK mới chỉ ra được chỗ nào trong lòng đất có dầu mà thôi. Ai cũng biết là quan trọng, là cần thiết… ấy vậy mà ngay trong các báo cáo tổng kết của XNLD, XN. địa-vật lý GK cũng chỉ được xếp hàng thứ yếu.
Xí nghiệp Địa vật lý giếng khoan (XNĐVLGK) là một đơn vị thuộc xí nghiệp "Vietsovpetro". Xí nghiệp có 9 KS người Nga và 152 CBCNV Việt Nam, trong đó có 87 kỹ sư. Hoạt động sản xuất của XNĐVLGK nằm trong phạm vi XNLD và làm các dịch vụ ra ngoài theo hợp đồng của XNLD. Nhiệm vụ chính của XNĐVLGK là:
- Đo các thông số trong giếng khoan (GK), giếng khai thác để nghiên cứu mặt cắt địa chất, phân chia liên kết địa tầng, xác định khoảng có triển vọng chứa sản phẩm, tính toán kết luận và đề nghị bắn mìn mở vỉa sản phẩm, xác định chất lượng vỉa của các giếng đang khai thác để có chế độ khai thác hợp lý.
- Bắn mìn đục lỗ vào vỉa sản phẩm, thử vỉa mới, gọi dòng, bắn mìn chênh áp làm sạch vỉa, đo khuyết tật ống chống và chất lượng bơm trám xi măng.
Kết quả xử lý phân tích tài liệu đo Địa-vật lý nói trên làm tham mưu cho những nhà địa chất, các nhà nghiên cứu chiến lược của vùng mỏ, các nhà chuyên môn về khoan hay các nhà điều hành khai thác mỏ.
Từ năm 1990 trở về trước, XNĐVLGK được trang bị kỹ thuật và công nghệ của Liên Xô (cũ). Máy móc làm việc hết khả năng cho phép, chủng loại không phong phú, các trạm karota điện, karôta khí làm việc lâu ngày trên biển nên đã hư hỏng nhiều, ít có linh kiện thay thế. Tài liệu được ghi lên trên giấy ảnh bằng các tín hiệu điện dạng tương tự, nên không tránh khỏi ảnh hưởng của nhiễu công nghiệp. Tài liệu can được phân tích tính toán bằng tay, đánh giá bằng mắt, bị trung bình hóa nhiều, nên độ chính xác có phần hạn chế. Tuy vậy, với đội ngũ kỹ sư, kỹ thuật được đào tạo từ Liên Xô (cũ) và các nước XHCN trước đây, cùng với sự trưởng thành từ thực tế tại Công ty dầu khí I Thái Bình, nên XNĐVLGK đã hoàn thành được công việc của mình.
Xí nghiệp không thể tồn tại bằng các máy móc cũ và công nghệ lạc hậu, nên đã tìm kiếm thông tin, vận động nội bộ, nghiên cứu và thử nghiệm, tìm đối tác. Lãnh đạo XNĐVLGK luôn thấy rằng đổi mới công nghệ, phát triển sản xuất theo hướng hiện đại, vi tính hóa các khâu trong sản xuất là mục đích, là hướng đi đúng để xí nghiệp tồn tại và phát triển, dần dần có thể so sánh với các hãng nước ngoài.
Công tác đổi mới công nghệ của xí nghiệp vừa kết hợp giữa việc cải tiến nâng cấp các thiết bị cũ với việc trang bị mới hoàn toàn các thiết bị của các hãng có tiếng trên thế giới.
Một mặt là việc cải tiến, nâng cấp các thiết bị cũ bằng cách giữ nguyên các máy giếng cũ, thay thế các linh kiện có khả năng chịu nhiệt cao. Xí nghiệp hợp tác cùng công ty phát triển công nghệ tin học AIC (bộ quốc phòng) chuyển đổi tín hiệu liên tục thành tín hiệu số, sử dụng máy vi tính để chạy chương trình đo và ghi số liệu vào đĩa, truyền tín hiệu qua vệ tinh và nhận tại bờ. Qua thực tế làm việc với AIC-Bộ quốc phòng cho thấy đã nhận được kết quả đạt yêu cầu đề ra và đảm bảo an toàn bảo mật. Tài liệu xử lý phân tích từ đây được thực hiện trên máy vi tính. Các kỹ sư phân tích đã viết được nhiều chương trình xử lý số liệu, đưa ra những kết luận chính xác hơn, trình bày nhiều màu đẹp và rõ ràng. Dù là kết quả bước đầu nhưng năm 1994 là bước chuyển mình đáng kể để xí nghiệp tiếp tục hoàn thiện đổi mới. Hiện nay có 9 trạm karôta điện và 2 trạm karôta khí tốt. Xưởng sửa chữa điện tự được trang bị thêm những máy đo lường có chất lượng tốt và độ chính xác cao, có lò thử nhiệt và kiểm tra áp suất cho máy, hiện đang hoàn thiện giếng để chuẩn máy.
Từ kết quả nâng cấp máy giếng, số hóa tín hiệu đo, hiện nay XNĐVLGK đang cùng công ty AIC tiếp tục cải tiến, thay thế các thiết bị bề mặt thông qua các thiết bị có thể điều khiển, đồng bộ được bằng máy vi tính và từ tháng 7 đến tháng 10/1997 vừa qua đã đưa vào sản xuất thử nghiệm đạt kết quả tốt tại các giếng khoan 1108 – 1003. Để thay cho việc đo từng máy, xí nghiệp đang tiếp tục chương trình nghiên cứu nhiều máy, đo nhiều phương pháp, tiết kiệm rất đáng kể thời gian chiếm dụng GK, nâng cao độ chính xác của phương pháp đo.
Đồng thời với cải tiến máy móc là việc mua mới các thiết bị có công nghệ cao của các hãng Geoservices, Sodesep (Pháp) Computalog, Robertson và Halliburton. Đặc biệt, XNĐVLGK đã mua một trạm xử lý số liệu (Workstation) có phần mềm xử lý nhanh và xử lý tổng hợp, in màu.
Công nghệ mới cho phép xí nghiệp tiến hành sản xuất thuận lợi, đồng bộ, xử lý kết quả nhanh hơn rất nhiều so với trước đây phục vụ kịp thời yêu cầu của các đơn vị đặt hàng. Đồng thời với việc nâng cấp, trang bị công nghệ mới là việc tự đào tạo và đào tạo đội ngũ kỹ sư, kỹ thuật về trình độ chuyên môn, khai thác phần cứng kỹ thuật thông tin cũng như sử dụng phần ứng dụng của máy vi tính. Hiện nay hầu hết các kỹ sư làm việc ngoài thực địa cũng như KS xử lý – phân tích tài liệu đều đảm bảo được công việc trên giao.
Sau hơn 10 năm làm việc khẩn trương, tới nay có gần 200 GK đã được đo và xử lý, tính toán tại XN, góp phần quan trọng vào việc khai thác dầu mỏ Việt Nam. Như vậy là ĐVLGK đã thay thế hoàn toàn việc lấy mẫu lõi để nghiên cứu lòng đất, giúp các nhà địa chất đánh giá về mỏ dầu một cách chính xác hơn.
Không dừng lại ở đó, lãnh đạo xí nghiệp đang có những định hướng phát triển công nghệ cao cho những năm tới, nhằm chủ kỹ thuật để tự khẳng định mình và để đạt tới trình độ thế giới.
Với tất cả năng lực về kỹ thuật, tài sản trí tuệ cùng sự vận động không ngừng, XNĐVLGK đã đáp ứng được mọi yêu cầu sản xuất của ngành dầu khí, góp phần quan trọng vào việc tìm ra dầu mỏ để LDDK khai thác đạt 50 triệu tấn dầu vào ngày 12/10/97; đồng thời mở ra tương lai tươi sáng cho chuyên ngành Địa-vật lý Việt Nam.
Vũng Tàu, 1997
Văn Bản