" Công danh gánh nặng còn chưa trả Duyên nợ lại vương khách má hồng"

Lại nói: Trần Thụ thi hành kế sách của mình được quãng nửa năm, khiến cho dân tình khốn khổ, nhiều kẻ vợ con tướng sĩ không có cả gạo mà ăn.

Tướng sĩ ngày ngày phải đến chầu trong trại cho đủ số quân, nhưng không còn ai muốn bàn đến việc binh nhung. Ngay cả quan ngự sử Phạm Tú cũng bỏ bê sử sách, khiến cho bao điều ngang trái không lưu truyền lại được cho con cháu mai sau.

Một bữa, Liệu đang cùng Trần Thụ, Ðỗ Hậu họp bàn việc khôi phục khí thế ba quân, thì sực có thám mã trở về mang theo nhiều tin chiến sự: " sau nhiều âm mưu thoán nghịch, Ðắc Hoài bây giờ đã lui về trí sĩ, quyền bính bây giờ nằm trọn trong tay một người họ Nguyễn, tên Giao. Lại nói Nguyễn Giao vốn người thấp bé, nhưng có chí hơn người, sơ trung, cao học đều thoát cả cũng một phần nhờ ở cái giáp tập kết ưu tiên. Khi xưa Giao từng bôn ba hải ngoại, kinh sách đọc nhiều, khiến cho đám ngoại bang có phần vị nể. Mặc dù chức trọng quyền cao, nhưng Giao vốn có lòng nhân ái, nên luôn chăm lo đời sống muôn dân. Hầu hết binh sĩ dưới quyền Giao dù ở Hưng Yên hay Hà Thành cũng đều được phân nhà, cấp đất, khiến cho trăm họ vui vẻ thái bình. Các tướng sĩ hết lòng giúp nước. Không kể các tướng có nhiều công trạng như Bàng Thống, Trọng Cán, Ðỗ Lưu, ngay cả đám tướng trẻ cũng theo gương Giao mà nghiền ngẫm binh

thư, kế sách và hàng năm đều có kẻ đạt giải " cái lưỡi vàng" . Như tướng Công Tào, chỉ với vài mẫu đất đá trong tay, tối ngày giam mình trong phòng cùng mấy ống thủy tinh, chai lọ mà cũng có thể chỉ ra được nơi nào có dấu vàng đen, lập nên công trạng, muôn đời sử sách lưu danh. Có khác nào Tử Phòng - Trương Lương ngồi trong màn trướng mà nghĩ xa muôn trượng, giúp cho Lưu Bang xây dựng cơ đồ. Hay như Huy Quynh chỉ dán mắt vào kính hiển vi, nghiền ngẫm cổ sinh mà làm nên nghiệp lớn. Ðám võ quan như: Hoàng Thạch - Hoàng Qúy - Lý Phương, Trần Huyên - Xuân Dịnh - Mạnh Huyền... cắp gươm theo Trọng Cán chưa lâu, mà đã cầm quân một mình đánh Ðông, dẹp Bắc. Hầu hết đám tướng lĩnh của Nguyễn Giao đều ở chốn kinh kỳ, mười vẻ phong lưu, xem khinh miếng cơm manh áo ở đời, nên được người ta gọi là Viện sĩ. Ðám Viện sĩ này đôi khi có phần kiêu ngạo và thường xem quân sĩ các nơi là hạng võ biền. Cũng vì thế mà những kẻ có chí làm quan đều vời trông về đất kinh kỳ, những mong đầu quân cho Nguyễn Giao để được ghi tên vào tre lụa. Nay, nếu đại vương không lo thu phục nhân tâm, thì tướng tài bỏ đi, trong quân e chỉ còn đám phàm phu tục tử ".

Liệu nghe nói vẫn nửa tin nửa ngờ, trong dạ phân vân, thì chợt có quan ngự sử xin được vào yết kiến. Vừa trông thấy Liệu, Phạm Tú đã dập đầu xuống đất, khóc mà tâu: " Muôn tâu thánh thượng, kẻ bầy tôi cắp gươm theo hầu nhà Nguyễn kể đã lâu ngày, chịu ơn mưa móc đã nhiều, dẫu có da ngựa bọc thây cũng khó lòng báo đáp. Hiềm vì vợ chồng của hạ thần muôn trùng cách biệt, bấy lâu bể Sở, mây Tần. Chạnh nghĩ tới cảnh vợ thần lâu ngày tựa cửa chờ mong, đứng nhìn về nơi ải Bắc thấy đồi núi lô nhô, mây đen kéo tới, nỗi nhớ nhung lại canh cánh bên lòng. Ðêm đêm giọt lệ vắn dài, nghĩ tới thề xưa hẹn qua năm mới chồng về, lại thấy chín khúc tơ vò, thương người đất thú. Ðành rằng phận làm tôi phải báo đáp hết lòng, nhưng cái nghĩa tao khang kia cũng không thể bỏ.

Nay quan đại thần Trí Liễn thương đến kẻ hèn, cho về kinh kỳ rửa nghiên mài mực, dám mong đại vương mở lượng hải hà, giải quyết cho đi. Vợ chồng kẻ hạ thần đây xin kết cỏ, ngậm vành, cháu con nối đời cung tiến."

Giữa lúc Liệu đang phân vân chưa quyết thì Trần Thụ mặt mày xám ngắt xô cửa xông vào quên cả lễ vua tôi, vội vàng ngăn Liệu: " Muôn tâu thánh thượng, quân của ta tướng tài kể có hàng trăm, sĩ tổtca ngàn nhưng chỉ có Phạm Tú sử quan là thày địa lý, thông hiểu âm dương. Nay nếu Phạm Tú bỏ mà đi thì quân ta có khác chi hùm thiêng bị què một cẳng." Cũng vì thế mà Phạm Tú không được về đất kinh kỳ.

Từ đó trở đi, tấm lòng cố quốc tha hương, mấy độ thở than, mưa xuân sương thu, tơ sầu muôn mối, oán hờn không lúc nào nguôi.

Chán nản việc quân, Tú thường ngao du ngắm cảnh, bầu rượu túi thơ, mua vui cùng các thục nữ trong vùng. Lại nói Tú vốn dáng dấp thư sinh, nước da trắng trẻo lại giỏi nghề thơ phú để tặng các tiểu thư. Vì thế mà không kể đám khách má hồng tuổi mười tám đôi mươi tơ tưởng Phạm tú đã đành, mà lắm kẻ nạ dòng nói chuyện với Tú đôi câu, đêm về cũng trằn trọc năm canh, tâm thần mê mẩn. Tú lại có tài nhại " Hịch dầu khí " của Nguyễn Ðiền khi xưa, để mua vui cho đám lính chưa vợ dưới quyền:

" Ta cùng các ngươi sinh ra phải thời cải tổ, lớn lên gặp buổi đa nguyên. Thấy bọn gái đẹp đi lại nghênh ngang ngoài đường, lấy cớ má hồng mà dụ giỗ kẻ có tiền, đem thân tươi mát mà bắt nạt mấy thằng có của. Lại cậy có sắc đẹp để đòi vải lụa, giả bộ chưa yêu để vơ vét bạc tiền. Ðồng lương của ta có hạn mà lòng tham của chúng không cùng. Thật khác nào như mang thịt mà nuôi hổ đói, sao cho khỏi tai họa về sau.

Ta thường thức suốt năm canh, nửa đêm nghĩ kế, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm tức vì chưa đưa được chúng vào khách sạn. Dẫu cho trăm thân này bị bà cả, bà hai ruồng bỏ; ngàn xác này bị bà ba, bà tư cấu xé, ta cũng cam lòng. Các ngươi ở cùng ta tán gái đã lâu ngày, không có ngựa thì ta cho mượn xe; không có kính thì ta cho mượn mũ. Lúc đi khách sạn thì ta cho vay tiền, muốn đi tươi mát thì ta cho tạm ứng.

Nếu bị cảnh sát hỏi thăm thì cùng nhau sống chết; lúc vào cầu lại cùng nhau vui cười. Cách đối đãi như anh em kết nghĩa, hỏi ta có tiếc điều chi?

Nay các ngươi nhìn bọn Việt kiều về nước mà không biết lo, thấy thiên hạ đi taòn xe Dream mà không biết thẹn, trai trẻ thế này phải đi xe đạp mà không biết tức; chỉ biết lấy việc xây nhà ở quê cho bà cả làm vui, lấy việc mua sắm vòng vàng cho bà hai, bà ba làm trò tiêu khiển; hoặc lo chạy tiền nuôi con riêng của bà tư mà quên việc gái, hoặc lo đối phó với chồng con bồ nhí mà quên việc yêu đương. Nếu nay mai các ngươi già đi, thì bà cả, bà hai chắc gì đã chiều ngươi được nữa ? bà ba, bà tư tuy còn trẻ, nhưng chắc gì đã làm cho các ngươi được sướng vui ?

Lúc bấy giờ dẫu muốn đi đổi gió ở Ðà Lạt, Nha trang thì làm sao đủ sức, hay đưa bồ đi Vũng Tàu - Ô Cấp thì bạc tiền liệu có còn không ?

Lũ con cháu sẽ cười chúng ta rằng: bao nhiêu năm theo thày tán gái, mà lúc về già không có nổi một con bồ tuổi mười tám đôi mươi. Nỗi đau khôn tả, ca thán cùng ai, há còn mặt mũi nào đứng trong trời đất nữa ?

Ta viết bài hịch này để các ngươi biết bụng ta."

Giữa lúc Phạm Tú còn đang lo trả nợ khách má hồng, thì chợt có sứ giả đưa trát đến mời tú về triều gấp. Tú cả kinh, không biết sự thể ra sao, bèn vẫy đám tiểu đồng, tất tả về kinh. Thế mới rõ thực là:

" Muôn sự cho hay tại hóa công Lòng người muốn có được hay không? Thương quan ngự sử vai mang nặng Cái nợ trần ai khách má hồng "

Chưa biết Phạm Tú bị tội gì mà phải triệu về kinh, xem hồi sau mới hiểu.