Hà Quốc Quân, sinh 1947, quê quán: Chiêm Hóa, Tuyên Quang. Tốt nghiệp Đại học Dầu Hóa Bacu, Liên Xô, 1971, kỹ sư địa vật lý; nguyên Giám đốc Trung tâm Xử lý số liệu dầu khí.

Sau đợt lũ lịch sử 1971, tôi về Hà Nội, đến Tổng cục Địa chất (TCĐC) ở số 6 Phạm Ngũ Lão, phía sau Nhà hát lớn, trình giấy tờ để nhận công tác. Anh Lê Văn Cảm - cán bộ ở phòng tổ chức cán bộ, tuổi tầm 40 xem qua giấy tờ rồi hỏi giọng hơi đanh, như khiển trách nhẹ: Địa vật lý hả? Trường Dầu Ba Cu về hả? Sao bây giờ mới đến? Tôi thưa: Dạ, tại vì lũ lớn quá em không thể về Hà Nội sớm hơn được ạ. Có vẻ như đoán trước được câu trả lời sẽ như thế, nên anh ấy không quan tâm đến câu trả lời của tôi nữa mà đi thẳng vào vấn đề: Học ở trường Dầu ra, thì về Liên đoàn Địa chất 36. Hôm trước có mấy người trường Dầu Ba Cu tốt nghiệp về, đến đây và đã phân công công tác về dưới ấy rồi đấy. Nghe thế, tôi giật mình, thầm nghĩ không khỏi sốt ruột “chắc chỉ là mấy người bạn cùng lớp mình thôi chứ còn ai vào đây nữa vì đợt tốt nghiệp mình chỉ có 8 người thôi, mình đến muộn thật rồi, tụi nó nhanh thế”. Tôi rụt rè: Liên đoàn 36 đóng ở đâu hả anh? Anh ôn tồn giải thích: Liên đoàn 36 chuyên về tìm kiếm thăm dò dầu khí đóng ở Chợ Gạo, Hưng Yên. Liên đoàn là đơn vị quản lý nhiều đoàn địa chất làm nhiệm vụ riêng biệt song vẫn phối thuộc với nhau trong tìm kiếm thăm dò loại khoáng sản DẦU KHÍ được nhà nước giao phó.

Chưa kịp hỏi thêm anh cán bộ tổ chức nhìn thẳng vào mắt tôi rồi nói nhanh: Mai là mùng 1 tháng 10/1971, vậy cậu có muốn về đó nhận công tác ngay từ đầu tháng không? Tôi mừng rỡ: Vâng. Em không vướng bận gì đâu, có thể đi ngay anh ạ. Chắc là thấy cái vẻ ngu ngơ của tôi không dấu đi đâu được, chuyển sang giọng ân cần hơn anh ấy hỏi:  Thế đã có chăn màn cá nhân chưa? Tôi lúng túng đáp: Chưa có gì đâu anh. Rồi một tay anh giơ cao tờ giấy có form sẵn vừa nói chậm rãi: Bây giờ tôi soạn quyết định, trong lúc chờ xin chữ ký, đóng dấu, cậu tranh thủ ra ngay bách hóa Tràng Tiền mua chăn màn cá nhân đi, ở đấy không có thì lên bách hóa Cửa Nam. Người tôi run lên vì không thể ngờ rằng việc đến nhận quyết định phân công công tác lại diễn ra mau lẹ đến thế. Tôi không kịp suy xét gì nữa, chỉ còn biết vâng dạ đứng lên đi ra phố.

Đến Bách hóa Tổng hợp Tràng Tiền theo lối đường Hai Bà trưng, tôi vội lướt qua mấy quầy hàng bán bát đĩa, phích nước, ổ cắm điện ở tầng một rồi tìm cầu thang lên tầng hai. Bên trong cửa hàng bách hóa nổi tiếng miền Bắc thời đó (trước tháng 9 năm 1959 còn mang tên là nhà hàng Godard) có bốn cầu thang lên tầng 2 với bàn thang được làm toàn bằng gỗ lim lâu ngày đã lên nước đen bóng, lan can bằng thép và trụ cầu thang bằng đồng đúc hình con tiện điệu đàng kiểu Pháp rất đẹp. Tuy vậy dấu ấn thời gian đã kịp để lại trên mấy cái bàn thang đầu tiên dưới cùng. Nhiều năm trước đó khi mới vào Đại học ngoại ngữ ở trong Mễ Trì để học tiếng Nga tôi từng theo mấy người bạn thạo đường hơn đi tàu điện đến đây thuần túy chỉ là để…chơi (như ngày nay có một số người đến một supermarket) nên cũng không thấy xa lạ gì lắm với tòa nhà bách hóa tổng hợp này. Việc xếp hàng để mua hàng thời bao cấp để lại trong đầu tôi và chúng ta cái cảm giác vừa lo âu, sợ đến lượt mình thì món đồ mình cần mua cũng hết, vừa ngài ngại cái cảnh chen lấn giữa những con người xa lạ, nên tôi không dám dừng chân ngắm nghía những nét đẹp đến mê hoặc của kiến trúc Pháp cả ở trong lẫn bên ngoài tòa bách hóa này nữa. Thật may là hôm đó trong  bách hóa Tràng Tiền người mua đi lại không quá đông, có thể do dân số miền Bắc khi đó đâu chỉ hơn 20 triệu thôi? Rồi cuối cùng tôi cũng nhanh chóng mua được 2 thứ tối cần thiết như anh cán bộ tổ chức dặn: một màn đơn vải xô giá 5,5 đồng, một cái chăn dạ màu xanh lá cây, hàng nước ngoài, giá 6 đồng.

Bách hóa tổng hợp Tràng Tiền.

Nguồn ảnh “Hà nội nghìn năm văn hiến”.

Đã gần hết giờ làm việc buổi sáng tôi vội  trở lại số 6 Phạm Ngũ Lão, anh Lãm hồi nãy đưa cho tôi bản quyết định phân công công tác về Liên đoàn Địa chất 36 đã được đóng dấu ký tên rồi dặn dò:

Xe ca đi Hưng Yên xuất phát từ bến Nứa, gần cầu Long Biên. Thu xếp đồ đạc cho nhanh rồi ra bến xe ngay; chắc kịp đi trong ngày thôi, chuyến cuối cùng lúc 3 giờ chiều. Nếu đi chuyến đó thì về đến Hưng Yên có khi tối rồi đấy. Cậu nhớ là xin xuống Chợ Gạo nhé. Nhớ đấy, Chợ Gạo, cách thị xã Hưng Yên 3 ki-lô-met. Cậu mà quên, về đến tận bến ở thị xã thì phải đi ngược lại hơi xa đấy cho nên xuống chợ Gạo là tốt nhất.

Cũng vừa lúc hết giờ làm buổi sáng, tôi vội xin phép anh đi ngay. Quay trở lại nhà người quen để lấy đồ, ăn trưa qua loa rồi đạp xe thẳng lên bến Nứa tìm vào quầy bán vé đi Hưng Yên. Thật may, hôm đó người đi về Hưng Yên không đông nên tôi nhanh chóng mua được vé rồi lên chiếc xe ca hiệu “Ba Đình” máy đang nổ ầm ầm đứng chờ khách ngay gần đó. Gia tài của tôi, ngoài chiếc xe cuốc Liên Xô hiệu Sputnhich còn có chiếc valy đựng quần áo và mấy quyển sách kỹ thuật bằng tiếng Nga với chăn màn cá nhân vừa mua hồi sáng, được đưa lên nóc xe ca buộc chặt bằng dây chão. Qua cầu Long Biên rồi cầu chui xe rẽ về đường 5. Đây là lần đầu tiên tôi đi về hướng này nên mọi địa danh gặp trên đường đối với tôi thật lạ lẫm. Đến Phố Nối xe rẽ tiếp vào đường 39, hai bên đường đều trồng cây xà cừ đã nhiều năm tuổi tạo bóng mát cho người đi xe đạp, trông thật đẹp. Đường 39 lúc đó khá vắng xe cộ đi lại. Nhà cửa thấp và chỉ tập trung theo từng cụm nên lòng đường rất thoáng. Hai bên đường ruộng đồng trải rộng bát ngát, đây đó lúa đã ngả màu vàng nâu đang giữa mùa gặt. Bỗng nhớ đến những câu văn tả con đường 39 trong tiểu thuyết “Nhãn đầu mùa” của Xuân Tùng và Trần Thanh được bạn bè truyền tay nhau đọc vào đầu thập kỷ 60 khi còn đang học cấp III, tôi cố làm phép liên tưởng các chi tiết được mô tả trong tiểu thuyêt với hình ảnh thực tế… song mọi ý nghĩ cũng vội qua nhanh, vì còn mải để ý những địa danh mà người phụ xe xướng lên mỗi khi chiếc xe ca trườn tới: Bô Thời. Ai Bô Thời? Đoạn lại: Trương Xá. Ai Trương Xá? Mỗi lần xướng lên như thế là lại có vài chị sồn sồn tay cầm đòn gánh với bao tải đay cuộn lại (có lẽ ra Hà Nội bán hàng trở về) lục tục xuống xe. Đến Trương Xá thì mặt trời đã lặn, qua Kim Động đã nhọ mặt người, tôi lo lắng hỏi anh phụ xe: Sắp đến chợ Gạo chưa anh? Qua dốc Lã nữa là đến, anh phụ xe trả lời. Tôi vốn là người mạn ngược, nên đã quen leo dốc vượt đèo, nhưng vẫn giật mình thầm nghĩ: quái, sao giữa đồng bằng lại có dốc nhỉ? Thế rồi cũng chẳng phải chờ đợi lâu la gì, chỉ một lát đã thấy có người kêu to“dốc Lã, dốc Lã…”. Chiếc xe ca bò chậm qua chỗ đông người, có vẻ như là chợ xép đang họp nhanh trước lúc trời tối hẳn. Hóa ra đó chỉ là cái dốc con con do đoạn đường này bám theo triền đê Sông Hồng. Đoạn đường tiếp theo vắng vẻ khác thường, hầu như không thấy ánh đèn do nhà dân đều ở sâu trong xóm. Đột ngột xe dừng ở chỗ có vẻ như là phố xá, anh phụ xe xướng to: Chợ Gạo, ai Phù Cừ cũng xuống đây, ai Tiên Nữ thì về bến. Đón lấy chiếc xe đạp và cái vali từ tay anh phụ xe, tôi vội ghé vào quán nước gần nhất hỏi thăm đường. Chị chủ hàng nước nhanh nhảu: Cứ uống nước đi đã. Địa chất gần ngay đây thôi mà, đấy họ ở cái chỗ có điện sáng ấy. Do quá sốt ruột tôi từ chối ngồi vào quán và đạp xe theo hướng mà chị hàng nước vừa chỉ.

Đạp xe không quá 300 mét quả nhiên tôi thấy bên phải đường có một cái cổng chào bằng sắt ống tròn có đèn điện thắp sáng. Tôi mừng quá, đây hẳn là cơ quan nhà nước rồi. Ghé vào cổng gặp thường trực tôi trình giấy quyết định đến nhận công tác tại Liên đoàn Địa chất 36 và hỏi tên anh Nguyễn Giao do đã quen khi anh ấy sang trường Dầu Ba Cu làm nghiên cứu sinh. Cùng lúc đó có một anh dáng vẻ nho nhã vừa ở bên trong cơ quan đi ra, nghe thấy vậy liền hỏi: Có quen anh Giao hả? Anh nhân viên thường trực tiếp lời: À, anh Huệ, anh dẫn cậu này đến chỗ anh Giao nhé. Tôi cảm ơn, dắt xe theo anh Huệ. Vừa đi anh ấy vừa cẩn thận giới thiệu: Mình tên là Huệ, kỹ sư trắc địa. À, hóa ra anh cũng là dân kỹ thuật. Mừng vì sắp gặp lại anh Giao tôi sốt ruột hỏi: Thế anh Giao ở nhà nào anh? Anh Huệ nói, giọng sốt sắng: Cứ vào đây chơi uống nước với bọn mình đã, rồi tí nữa tớ dẫn sang anh Giao. Anh ấy lấy vợ rồi. Một cảm giác chưng hửng ập đến, có vợ tức là mất tự do gặp bạn bè rồi, ít nhất là buổi tối nay mình không thể tự ý đến nói chuyện với anh ấy. Anh Huệ mời tôi thứ nước chè lần đầu tiên tôi được uống, đó là chè nhà máy, nhãn hiệu Hồng Đào, gói giấy màu vàng tươi. Chè có vị rất chát nhưng hương chè thơm đặc biệt tỏa khắp gian nhà. Hỏi chuyện gia đình, quê quán, chuyện đi đường một lúc anh Huệ ân cần nói: Bây giờ cũng muộn rồi, cứ ở đây chờ Lương về rồi ăn cơm với bọn tớ, đoạn tớ dẫn sang chỗ anh Giao; Lương là kỹ sư khoan cùng làm việc trong phòng Quản lý sản xuất với mình.

Lúc đầu tôi thấy thật ngần ngại vì mới quen nhau, làm thế như thể có cái gì đó đường đột quá chăng? mà sao anh ấy đã coi tôi như người em cùng ngành nghề, như đã quen từ lâu rồi vậy. Những người địa chất thường đi làm việc ở môi trường xa lạ thì gắn bó với nhau như thế chăng? Tôi tranh thủ hỏi anh Huệ về Hưng Yên, rằng mới đi dọc đường 39 và dừng ở chợ Gạo một lúc thôi, song đã có cảm giác ở đây hoang sơ, bé nhỏ và hẻo lánh lắm. Cũng vừa lúc anh Lương về và gần như 2 anh cùng nói: Thế, cậu chưa nghe câu “Thứ nhất Kinh kỳ, thứ nhì phố Hiến” bao giờ à? Trong khi ăn cơm, các anh giải thích rằng Phố Hiến ngày xưa là thương cảng quốc tế nổi tiếng đấy. Thuyền buôn các nước châu Âu như Hà Lan, Anh, Pháp, Bồ Đào Nha từng đến đây và mở thương điếm để buôn bán ở phố Hiến từ thế kỷ XVII cơ đấy. Khi đó Phố Hiến chỉ đứng sau Thăng Long - Kẻ Chợ thôi. Câu tục ngữ này ca tụng sự phát triển sầm uất, những trung tâm chính trị, kinh tế thương mại phát triển của nước ta ở thời kỳ đó. Hưng Yên là xứ sở nhãn lồng thì cả nước biết rồi, nhưng cậu biết không, ở đây có thứ nhãn gọi là nhãn tiến vua đấy. Tôi buột miệng hỏi: Tiến vua nhà Nguyễn ở mãi trong Huế à? Cả anh Huệ anh Lương cùng cười khẳng định: Không, tiến vua Lê - chúa Trịnh ấy chứ. Không dấu nổi tò mò, tôi hỏi: Thế những cây nhãn tiến vua ấy còn không? Anh Lương khẳng định: Còn, còn một cây mà. Nhưng mà cây già lắm rồi, bên gốc của nó mọc lên một nhánh nghe nói người ta đắp thêm đất phù sa để chăm sóc rất cẩn thận nhánh cây nhãn còn non này đấy. Lúc đó cả 3 chúng tôi cùng tính: Nếu là thứ nhãn tiến lên vua Lê, chúa Trịnh dễ cũng đến 300 năm rồi còn gì. Anh Huệ nói tiếp: Vùng này có nhiều con gái đẹp, hồi xưa từng được tiến vào cung vua, nên có cả một huyện gọi là huyện Tiên Nữ. Anh Lương cười tủm tỉm: Không biết gọi là Tiên Nữ hay Tiên Lữ nữa, vì vùng này người ta hay phát âm nhầm N với L. Nghe đến đó tự trong lòng tôi trào lên cảm giác khâm phục sự hiểu biết của 2 anh cán bộ kỹ thuật Liên đoàn Địa chất 36 mà tôi mới được làm quen một cách tình cờ. Tự nhiên tôi thấy mình trở nên bé nhỏ hơn, còn quá nhiều điều ở gần mình mà mình chưa biết; và cái hăm hở của sinh viên mới ra trường trong tôi dường như cũng được khích lệ ít nhiều.

Dẫn tôi vòng qua mấy dãy nhà lợp lá đến dãy nhà cuối cùng, dừng ở gian đầu hồi giáp bờ rào tre ngăn với ruộng lúa, gặp một luồng ánh sáng xanh hắt ra từ khe cửa liếp, anh Huệ dừng lại cất tiếng gọi. Cửa mở ra, nhìn thấy anh Giao tôi mừng quá! Rồi không đợi mời, tôi liền bước vào chào hỏi, mà quên mất đây là phòng riêng của anh chị ấy. Tấm màn gió phía sau anh Giao động đậy, một cô gái còn trẻ, trẻ hơn nhiều so với tuổi anh Giao ngượng nghịu bước ra chào khách rồi lấy nước mời mọi người. Giọng nhỏ nhẹ, anh Giao giới thiệu: Đây là Cần, vợ mình. Một ý nghĩ thoáng qua nhanh trong đầu tôi: Địa chất mà thế này thì gian khổ ở đâu ấy chứ. Hàn huyên gần xa một hồi anh Giao hỏi: Thế cậu nhận quyết định trên Tổng cục Địa chất từ hôm nào? Tôi thuật lại câu chuyện sáng nay đến Tổng cục Địa chất nhận quyết định như thế nào…và vẫn không giấu được ngạc nhiên tôi hỏi anh Giao cũng như tự hỏi mình lần nữa: Sao mà việc ra quyết định nhanh thế hả anh? Anh Giao bèn cười nói: Cậu mới về nên không biết rồi, ở trong nước bây giờ mọi người làm việc theo tác phong thời chiến, thấy việc gì đúng và cần thiết thì giải quyết ngay, không chậm trễ. Cậu phải học cách thích ứng dần đi. Tôi như bừng tỉnh sau khi nghe 4 chữ “tác-phong-thời-chiến” mà mình đã quên mất sau nhiều năm học tập ở một đất nước thanh bình. Anh Giao nói như phân trần: Vừa có đợt lũ nặng nên các Đoàn lẻ sơ tán về Liên đoàn bộ ở chợ Gạo này, nên chưa có phòng trống đâu, cứ ngủ tạm ở phòng làm việc đã. Lũ cũng rút rồi, chỉ mấy hôm nữa các Đoàn về lại nơi cũ thì nhận phòng sau, đoạn anh chỉ cho tôi phòng làm việc kế bên và thế là tôi mang tác phong thời chiến đi vào giấc ngủ trong đêm đầu tiên của cuộc đời địa chất dầu khí ở Liên đoàn 36.

Sáng hôm sau, trong lúc dọn phòng để mọi người đến còn có chỗ làm việc, tôi nghe thấy có tiếng gầu múc nước chạm ngau trong cái giếng nước tự đào. Có tiếng ai đó: nước đục quá! Người khác bảo: Tốt rồi! hôm nay có nước cho mà dùng đã là tốt lắm rồi, chả bù cho mấy bữa trước, đố mà vẹt được nửa xô.

Gần như tất cả nhà cửa ở Liên đoàn bộ Liên đoàn 36 làm bằng tre, nứa, vách trát bùn trộn với rơm trông sơ sài nhưng ấm kín về mùa đông, mát về mùa hè, mái lợp lá mía đánh thành từng vỉ, cũng mát nhưng hay có bụi mọt rơi xuống. Nền nhà được tráng một lớp xi măng khá phẳng nhưng mỏng, xung quanh bó gạch vuông vức. Mặt trước có những bồn hoa hình chữ nhật quây bằng gạch xếp nghiêng 45 độ, được viền bằng những dải tóc tiên sót lại vài nhánh hoa bình dị tím hồng cuối mùa, giữa bồn hoa điểm vài khóm hoa nhài. Bỗng nghe từ phòng bên vọng sang giọng một người con gái nhấn đều đều những chữ: cờ đỏ-uông bí-ông đình-chí linh-hà nội-o tròn-phúc yên-đặng xá-an châu-nam định-gia lộc-hà nam-o tròn-an dương-nhã nam-sông lô-an châu-nam hà-ga côi-nam định-gỗ thông-an châu-mai động... Hỏi ra mới biết là trạm liên lạc vô tuyến truyền lệnh tới các Đoàn hoãn cuộc họp Đảng của Liên đoàn sang ngày khác, mà việc “giải mã” chuỗi từ dài dằng dặc ấy lại quá đơn giản do chỉ cần ghép những chữ cái đầu tiên các địa danh đó lại, thế mà không hiểu vì sao người ta vẫn dùng!

Theo hướng dẫn của anh Giao tôi sang trình diện anh Phan Minh Bích, Liên đoàn phó phụ trách kỹ thuật. Trước khi đi tôi cẩn thận hỏi độ tuổi của anh Bích để xưng hô cho đúng thì anh Giao nói: Anh ấy cũng lớn tuổi rồi nhưng cứ gọi là anh. Lúc đó từ “anh” được dùng với hàm ý là người anh lớn tuổi hơn chứ không như ngày nay “anh” thuần túy chỉ là đại từ nhân xưng ngôi thứ hai như you trong tiếng Anh. Phòng làm việc của anh Phan Minh Bích nhìn ra hướng đông-nam, qua bờ rào làm bằng tre, nứa là mấy ruộng đay già người ta để lấy hạt. Có vẻ như đã biết về lớp chúng tôi, anh Bích cho biết đã phân công từng người về các đơn vị trong liên đoàn 36 như thế nào. Bằng giọng Quảng Nam khá nặng, với từ “hoài” anh phát âm chữ “h” thật rõ còn chữ “i” lại thiếu thành ra nghe ra huoà, anh dặn dò:

Em sẽ về phòng quản lý sản xuất làm việc, trưởng phòng là anh Hồ Đắc Hoài, anh Hoài cũng là địa vật lý đấy, cũng học ở Liên Xô về nhưng anh ấy đi công tác chưa về đâu. Chuyên gia Liên Xô ở Liên đoàn 36 đông, mà kỹ thuật mình còn ít người thạo tiếng Nga làm việc với bạn để tiếp thu kỹ năng làm việc của bạn, do vậy hằng ngày em sẽ làm việc trực tiếp với chuyên gia… Đoàn địa chất 36 mình thành lập từ năm 1961 nhưng gần đây, năm 1969 mới thành Liên đoàn. Ngay từ lúc mới thành lập lúc nào cũng có chuyên gia Liên Xô giúp đỡ các mảng kỹ thuật của Liên đoàn.

Nghe vậy tôi thấy thích vô cùng. Ra khỏi phòng anh Phan Minh Bích tôi đem giấy tờ của mình đến nộp cho phòng Tổ chức, hoàn thành bản khai lý lịch cá nhân (CV). Khi trở lại phòng làm việc - nơi tôi nghỉ lại đêm qua đã thấy rất đông người, có cả bàn kê ra ngoài hiên để làm việc. Người thì chăm chú ghi chép các bảng số, người thì lúi húi xoay xoay bản vẽ, số khác thì dùng compa vẽ các cung đường tròn tiếp tuyến để xây dựng mặt cắt chiều sâu. Trước mắt tôi là cảnh hàng xấp băng ghi địa chấn  được bày ra 1 chiếc bàn rộng để nhận dạng các nhóm sóng và liên kết chúng từ băng ghi này tới băng ghi khác theo nguyên lý quãng đường truyền sóng bằng nhau (theo sơ đồ bố trí điểm nổ-máy thu trong quá trình thu nổ ghi sóng ở ngoài thực địa). Công việc này được gọi là “vạch pha liên kết sóng” chủ yếu do các kỹ sư đảm nhận. Các nhóm sóng được liên kết theo pha dương, phân biệt với nhau bằng nét bút chì 2 màu xanh đỏ, thứ bút “hai trong một” do nhà máy văn phòng phẩm Hồng Hà sản xuất. Các mạch địa chấn  ghi tín hiệu hình sin bằng nét bút rất mảnh, tại nhiều đoạn biên độ dao động của sóng khá lớn thì đường ghi nọ trèo vắt qua đường ghi kia, nên liên kết được hết các pha không hề dễ chút nào. Thật khó phân biệt sóng phản xạ nhiều lần cũng như sóng tán xạ - 2 loại sóng nhiễu thường gặp nhất trên các băng ghi ấy. Trên một số băng còn có từng nhóm sóng giao thoa nhau không còn có thể nhân biết thật giả ở chỗ nào nữa. Mặc dù khi đó Liên đoàn Địa chất 36 mới chỉ tập trung thăm dò phần đất liền là đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) nhưng cấu trúc địa chất ở đây rất phức tạp nên việc nhận dạng, liên kết các tầng phản xạ thật sự khó khăn. Với các băng ghi sóng trên giấy ảnh  ở thời kỳ đầu bằng cái trạm địa chấn CC-24П việc này còn khó hơn nữa (xem ảnh).

Một băng ghi địa chấn bằng trạm máy CC-24П ở ĐBSH, giai đọan 1962-1964.

Vì những lẽ đó mà cấu tạo Tiền Hải C cũng như nhiều cấu tạo khác được vẽ có diện tích lớn hơn nhiều so với thực tế, do không phân biệt được sóng tán xạ ở 2 rìa đứt gãy ở 2 bên cánh cấu tạo. Sau khi liên kết sóng đến công đoạn đọc trị số thời gian đưa lên giấy mi-li-mét (giấy kẻ li) để dựng các biểu đồ thời khoảng (có hình hyperbol), từ đó mới lấy các trị số thời gian To để dựng mặt cắt thời gian, khi đó quen gọi là mặt cắt To  và các trị số Tx để tính tốc độ truyền sóng. Sau khi tính được vận tốc truyền sóng cho cọc nổ nào đó mới đem nhân với các trị số thời gian đọc được trên đây để tính các trị số độ sâu (biểu kiến) rồi dùng compa vẽ mặt cắt chiều sâu. Các trị số từ mặt cắt chiều sâu này sẽ lần lượt ghi lên các cọc nổ tương ứng trên bản đồ tuyến. Công đoạn này chủ yếu do anh chị em trung cấp thực hiện. Anh em kỹ sư sẽ vẽ bản đồ cấu tạo trên bản đồ tuyến qua phép nội suy các trị số độ sâu đó. Dù là nổ đơn nhưng mỗi quãng 600 mét phải có 2 băng ghi rồi cho nên 1 tuyến địa chấn dài hàng chục cây số từ huyện Kiến Xương đến huyện Tiền Hải, Thái Bình cũng đã ghi vô số băng giấy, mỗi băng ghi 24 mạch, thời gian ghi sóng dài 6 giây thì khối lượng các trị số thời gian phải đọc rồi thể hiện trên giấy kẻ li vô cùng lớn. Từ sáng đến trưa từng nhóm người làm cái công việc ngày nay gọi là minh giải tài liệu địa chấn ấy hoàn toàn thực hiện thủ công như thế với thước mi-li-mét, compa gỗ chân dài (để vẽ mặt cắt chiều sâu), thước Lôgarit (loại do Tiệp Khắc sản xuất được chuộng hơn do ít bị cong vênh, vạch chia các trị số cũng rõ ràng hơn), máy tính Nisa dùng để tính tốc độ truyền sóng địa chấn. Khi thực tập tốt nghiệp ở Ba cu (1971) chúng tôi được đến Liên đoàn Địa vật lý thì đã thấy bạn dùng máy “analog” ПСЗ-4 để xử lý số liệu địa chấn rồi. Các mặt cắt thời gian nhận được từ máy “analog” ПСЗ-4 khá liên tục và đẹp nhưng so với mặt cắt ghi số, xử lý bằng máy tính ngày nay thì tần số còn thấp, độ phân giải chưa cao. Vào năm đó xử lý tài liệu địa chấn trên máy tính đối với bạn mới đang trong quá trình thử nghiệm, chưa đạt được mức sản xuất đại trà. Vì thế với công việc xử lý số liệu địa chấn ở Liên đoàn 36 vào thời kỳ 1971-1973 thì máy ПСЗ-4 đã là niềm mơ ước nhưng không dễ gì có được (đến 1975 chúng ta mới có được cái máy ПСЗ-4  này). . .Hỏi ra được biết đó là mấy nhóm cán bộ kỹ thuật đoàn 36F sơ tán chạy lũ đang còn miệt mài làm việc. Hầu như khắp các phòng kỹ thuật lúc nào cũng nghe tiếng máy tính cơ Nisa quay phát ra tiếng kêu rạt rạt, rạt rạt, keng... Cái tiếng keng phát ra cuối cùng báo hiệu phép tính đã thực hiện xong, không cần quay tay quay của máy nữa. Loại máy tính cơ Nisa này được dùng khá là phổ biến ở các nước phát triển trước sau thế chiến thứ II, còn trong Liên đoàn Địa chất 36 lúc đó thì máy do Ba Lan sản xuất được ưa dùng hơn cả. Loại máy tính này được trang bị cho tất cả các phòng, ban có nhu cầu tính toán, kể cả phòng Tài vụ, phòng Kế hoạch (xem ảnh).

Một chiếc máy tính cơ Nisa.

Tuy vậy, sau khi làm quen với anh chị em làm kỹ thuật ở đoàn 36F và chứng kiến một số công đoạn minh giải bằng tay tài liệu địa chấn như thế, tôi không những không có có cảm giác sợ hãi mà còn thấy vô cùng thích thú: dẫu sao thì đây đúng là ngành của mình, nghề của mình được đào tạo bài bản rồi, mình có thể đi cùng nó suốt đời. Giờ đây thời gian đã lùi xa đến gần 40 năm, khi đã quen với supercomputer, workstation nhớ lại cảnh minh giải tài liệu địa chấn như hồi đó thấy thật đáng sợ. Rất nhiều chị em năm này qua năm khác làm công việc đọc các trị số thời gian đưa lên giấy kẻ li như thế bây giờ phải đeo kính với số diop khá là “khủng”.

Đến chiều thì tôi nhận được quyết định phân công công tác về phòng quản lý sản xuất do anh Hồ Đắc Hoài làm trưởng phòng đúng như anh Phan Minh Bích thông báo trước từ buổi sáng. Mức lương của tôi - kỹ sư mới ra trường là 53 đồng 5 hào (bằng 75% lương kỹ sư khởi điểm). Sau 3 năm tập sự sẽ được tăng lên mức khởi điểm 63 đồng/ tháng. Được biết lương tháng của anh Hoài khi đó là 88 đồng (kỹ sư bậc hai, anh Hoài ra trường từ năm 1961), anh Bích là 104 đồng (kỹ sư bậc ba), còn lương tháng của chị em trung cấp kỹ thuật khởi điểm là 47 đồng, số đang còn trong thời gian tập sự lĩnh 42 đồng/ tháng; các công việc khác có khi chỉ 39 đồng/ tháng, thậm chí 36 đồng/ tháng. Mấy anh Lao động -Tiền lương ở phòng Tổ chức giải thích thêm: do bây giờ đã vào quý IV nên sẽ không có tiêu chuẩn phiếu vải, còn phiếu đường sẽ xin sau, riêng gạo thì có tiêu chuẩn ngay, mức 13,5 kg/ tháng; các tiêu chuẩn thực phẩm khác như thịt, rau thì gộp hết về nhà bếp của Liên đoàn. Mỗi người đóng tiền ăn cho nhà ăn tập thể theo tiêu chuẩn cố định là 18 đồng/ tháng, ngày ăn 2 bữa trưa, tối. Để tiện so sánh với ngày nay ta tham chiếu với giá vàng khi đó là 30 đồng 1 chỉ, giá vàng quốc tế 35 USD/ ounce (xem hình đồng tiền giấy). Giá gạo 4 hào/ kg, thịt một đồng tám hào/ 1 kg, một bát phở mậu dịch giá 3 hào, nếu là bát 5 hào thì thêm khá nhiều thịt. Mua 5 xu (1/2 hào) rau thơm rau sống ở chợ đủ cho 4 người ăn. Giá vé xe khách Hưng Yên-Hà Nội là 1 đồng năm hào. Giá chiếc bánh chưng nho nhỏ ở chợ Gạo đủ cho bữa sáng là 5 hào, chén nước trà giá 5 xu. Hàng công nghiệp khá đắt so với tiền lương: xe đạp Phượng Hoàng (Trung Quốc) 400 đồng, xe Thống Nhất (Việt Nam) 450 đồng, Quạt “con ve” 35 đồng (ngày nay loại quạt này nếu ai còn giữ được thì thường dùng để quạt nhóm bếp than tổ ong!).

Tiền giấy VNDCCH 1958-1978 (sưu tập của tác giả).

Trong lúc chờ đợi anh Hoài đi công tác về để nhận nhiệm vụ cụ thể tôi xin phép đi vào thị xã Hưng Yên để thỏa chí tò mò xem cho được cái gọi là “Thứ nhất Kinh kỳ, thứ nhì Phố Hiến” ẩn dấu trong câu nói đó đầy vẻ tự hào. Vẫn theo con đường 39A ấy với 2 hàng cây xà cừ ven đường rồi ruộng lúa tiếp nối ruộng lúa đang vào độ gặt rộ… tôi thong thả đạp xe về hướng thị xã. Phải mất chừng gần 2 Km mới thấy có ít nhà và một ngôi chùa gọi là chùa Táo ở sát mặt đường. Quá lên một chút ở bên trái đường, cũng hơi sâu vào so với mặt đường là trụ sở Uỷ ban Hành chính xã Hiến Nam (hồi đó chưa gọi là UBND) thuộc về huyện Kim Động tỉnh Hải Hưng - địa chỉ liên lạc chính thức của Liên đoàn địa chất 36. Chẳng mấy chốc đã nhìn thấy bến xe khách Hưng Yên ở ngay đầu thị xã. Từ đây đường 39A đổi hướng sang trái về mạn Ba Hàng, Thiện Phiến, Triều Dương, Tiên Lữ. Con đường chính giữa, đường Điện Biên Phủ chạy thẳng tắp xuyên qua thị xã tới tận chân đê sông Hồng. Đến tầm giữa thị xã gặp một chợ nhỏ ở bên trái có biển đề là Chợ Phố Hiến. Từng thúng hạt sen nâu sẫm được bày bán ở đây, trong mỗi thúng hạt sen có hẳn một cái vỉ nho nhỏ bằng gỗ, một mặt được khoét rất khéo 100 hố nhỏ để đong đếm hạt sen thật là nhanh khi bán thứ hạt quý này cho khách. Hạt sen là đặc sản của Hưng Yên và ngày nay mãi vẫn thế. Nhớ lời hướng dẫn của 2 anh Huệ - Lương, tôi không rẽ vào chợ mà đi thẳng hết con đường đó rồi vòng theo chân đê, tìm đến một con đường rải đá nhỏ ở bên trái, rất thấp so với mặt đê. Tôi nhẩm ước lượng: theo “tọa độ” được mô tả thì có vẻ đúng là phố Hiến rồi, nhưng nhìn quanh tôi hoàn toàn thất vọng, chẳng có dấu hiệu gì gọi là “thương cảng cổ từ thế kỷ XVII”. Hỏi quanh mấy người dân sở tại họ cũng chỉ cho tôi được đúng vị trí cây nhãn có quả được dùng tiến vua Lê - chúa Trịnh nhưng gốc già gần như đã hỏng rồi, chỉ còn nhánh non mọc lên đang được phục tráng. Sau “bao nhiêu năm… phiêu bạt nơi phồn hoa cát bụi” tôi trở lại thăm Hưng Yên đúng mùa nhãn chín và, cũng phải nhờ người quen báo cho biết trước cái ngày cán bộ Văn phòng Uỷ Ban Nhân Dân thị xã phối hợp với chùa Hiến (trực tiếp trông coi chăm sóc cây nhãn tiến vua đó) hái quả, tôi mới được thưởng lãm quả của cây nhãn này. Tôi cảm nhận được câu “danh bất hư truyền” trong trường hợp này là chính xác tuyệt đối!

Tuy nhiên điều quan tâm nhất của tôi trong lần đầu đến thăm phố Hiến, cái đận 1971 ấy là dấu tích thương cảng cổ thì cho đến tận giờ cũng vẫn chưa được toại nguyện. Nguyên nhân đổi dòng theo nguyên lý muôn thủa “bên lở bên bồi” của đoạn sông Hồng chảy sát thành phố Hưng Yên ngày nay dù là quan trọng nhất, có lẽ cũng chỉ là một trong các lý do làm thương cảng Phố Hiến này lụi tàn. Quay trở lại, tôi rẽ sang đường Bãi Sậy chạy sát bên hồ Bán Nguyệt thơ mộng từ tên gọi cho đến cảnh quan xung quanh.

Hồ Bán Nguyệt, Hưng Yên nhìn từ đê sông Hồng.

Dấu ấn trên nút bê tông tại miệng giếng

khoan Chũ, An Châu, Bắc Giang (TD=1200 m, 1972).

(Trong những năm kinh tế khó khăn người dân đã đập bỏ để lấy cốt thép, song còn khá rõ chữ LIÊN ĐOÀN 36, cái nôi thân thương của ngành Dầu Khí Việt Nam. Dòng chữ đoàn địa chất 36C bên dưới chỉ còn lại chữ “chất” và nó được viết nhỏ hơn do tuân thủ nguyên tắc là đơn vị thành viên của Liên đoàn địa chất 36. Trong Logo ngành địa chất nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa vẽ phía trên có 4 chữ viết tắt Đ.C.V.N.- Địa Chất Việt Nam. Ảnh Hà Quốc Quân, 12/06/2010)

Mặt khác xem có khả năng tồn tại sóng từ các tầng nằm sâu hơn đáy giếng khoan hay không một khi ghi sóng trong lòng đất dọc theo thành giếng khoan, nơi ít có sóng nhiễu hơn để có hướng đi tiếp khi sử dụng phương pháp địa chấn phản xạ ở ĐBSH?. Nghe đến đây tôi cảm nhận được sự tin tưởng mà anh ấy muốn gửi gắm tới thế hệ đàn em, dù tôi chỉ là sinh viên mới ra trường. Đến đoạn anh Hoài nói là trạm máy chuyên đo karôta địa chấn đã có nhưng zond chuyên dụng đo VSP Liên Xô chưa gửi sang (thiếu đồng bộ là tình trạng phổ biến thời đó), nên đang chờ chuyên gia Vlađimiar thiết kế zond máy thu sóng trong giếng khoan…thì tôi cảm thấy lo lắng thực sự. Tôi hỏi anh Hoài một câu gần như ngây thơ: Thế cái giếng khoan sâu này khoan bằng giàn của Liên Xô hả anh? Anh Hoài trầm ngâm: Không! Giàn của Rumania đấy. Tôi chột dạ: Cuộc sống đôi khi có những điều phức tạp hơn ta tưởng. Buổi nói chuyện giao nhiệm vụ công tác đầu tiên kết thúc bằng một câu hỏi/ trả lời. Anh Hoài nói: Địa vật lý là gì? Là Vật lý cộng Địa chất cộng Toán học cộng Điện tử. Câu nói đó đã theo tôi suốt cả cuộc đời.

Không lâu sau đó, thật may mắn tôi được anh Hoài giao nhiệm vụ sửa bản đánh máy báo cáo tổng kết công tác thăm dò địa chấn từ 1967 đến 1970. Qua đó tôi mới có dịp làm quen một cách hệ thống với cấu trúc địa chất ĐBSH, sau này gọi là Miền Võng Hà Nội. Phù hợp với xu thế khu vực các đới cấu trúc chính kéo dài theo hướng Tây bắc - Đông nam Miền võng Hà Nội chia thành dải nâng Khoái Châu-Tiền Hải, dải Gia Lâm-Đông Quan (sau này tách ra thành nâng Gia Lâm, trũng Đông Quan), Rìa Đông-Bắc, Rìa Tây-Nam, lõm Phượng Ngãi… lấy các đứt gãy Sông Lô, Vĩnh Ninh, Sông Chảy làm giới hạn. Cho đến ngày hôm nay cách phân chia này vẫn còn nguyên giá trị sử dụng. Đây là một báo cáo tổng hợp điển hình kiểu như báo cáo G&G ngày nay.

Do cần tra cứu sách tham khảo, tôi lên thư viện Liên đoàn bộ. Mấy tay chuyên Nga văn ở Đại học Ngoại ngữ ra trường cùng đợt 1971 ấy gồm Hoàng Xuân Bản, Nguyễn Bá Bốn… đang chăm chú phân loại sách và viết phiếu tra cứu sách tiếng Nga hoặc dịch các tài liệu dầu khí sang tiếng Việt. Có rất nhiều sách và tạp chí dầu khí bằng tiếng Nga! Thì ra ngay trong chiến tranh, Liên đoàn 36 đã chuẩn bị khá đầy đủ cơ sở vật chất - kỹ thuật cho công cuộc thăm dò và khai thác dầu khí. Thấy tôi đến, họ cũng tranh thủ hỏi cho rõ thêm một số thuật ngữ chuyên ngành địa chất - địa vật lý. Đang mở mấy trang sách vừa mượn được để đọc nhanh tại thư viện thì nghe tiếng ai đó thong thả nhả thơ:

Có khi nào trên đường đời tấp nập

Ta vô tình đã đi lướt qua nhau

Bước lơ đãng chẳng ngờ đang để mất

Một tâm hồn ta đợi đã từ lâu…

Tôi tròn mắt ngạc nhiên, thầm nghĩ: “cày” tiếng Nga chưa đủ mệt hay sao, mà lại còn thơ với văn? Như đoán được ý tôi, Bốn vui vẻ giải thích: Nhà thơ đấy! Văn Bản là nhà thơ đấy! Làm thơ từ hồi còn học ở trường cơ. Tôi hỏi với vẻ thích thú: Vậy hả? Vậy mấy câu thơ trên ra đời trong hoàn cảnh nào? Bản đính chính sự hiểu nhầm của tôi, rằng đó là bài thơ Có khi nào… viết năm 1962 của Anh Bùi Minh Quốc – thần tượng của mình, cũng là tác giả bài Lên miền Tây nổi tiếng với “Xe chạy nghiêng nghiêng trèo dốc núi/ Lên miền Tây vời vợi nghìn trùng…”

Tôi nài nỉ Bản đọc một bài thơ tâm đắc của mình. Sau giây lát ngần ngừ, cậu ta ngân nga:

Tôi tìm em một chiều

Mưa thu về lất phất bay bay

Nghe trong gió

Cái rét về rét ngọt

Mà tìm em không thấy

Sắc áo nhòa trong sương

Lời hẹn xưa - mắt em long lanh nỗi nhớ

Mà bây giờ - anh tìm em nào có thấy!

Thoáng môi cười, chỉ còn trong giấc mơ thôi

Và hàng cây, buồn nhớ bóng ai hẹn hò. . .

Hay quá! Thầm nghĩ “Phàm những tay yêu thơ, là những cái mặt chơi được!”, nhưng rồi tôi vẫn ra vẻ thắc mắc và nói với giọng đùa vui: Rét ngọt mà thành thơ thì tớ chịu! Chớ ngày nào cũng như ngày nào, cùng tất cả thanh niên khác trong Liên đoàn mình cũng dậy tập thể dục từ lúc 5 giờ sáng (nếu không là bị phê bình ngay) song tớ chỉ thấy sương trắng đục, mà áo nhòa vào trong sương được thì thứ áo ấy chắc thiếu xà phòng?  Cả bọn cùng cười vì quả thật xà phòng thời chiến tranh rất khan hiếm. Cứ 10 giờ đêm khi máy nổ ngừng phát điện là mình chăm chăm đi ngủ để buổi sáng không bỏ giờ thể dục, song ác nỗi là đúng lúc đó tiết mục “tiếng thơ” của đài Tiếng nói Việt Nam mới bắt đầu. Loa truyền thanh trong Liên đoàn thì phát to hết công suất và nếu chương trình đó có Trần thị Tuyết ngâm thơ nữa thì mình cũng mất ngủ luôn. Bản thủng thẳng: Linh Nhâm cơ!  Linh Nhâm ngâm thơ còn hay hơn Trần thị Tuyết nhiều vì giọng ngâm của Trần thị Tuyết hơi lanh lảnh, đanh đanh; còn Linh Nhâm rung giọng ‘ngọt” hơn!  Một lần nữa tôi phải thầm thán phục sự tinh tế của anh bạn này. Hỏi ra mới biết, người yêu của Văn Bản đang công tác tận trên miền Tây Bắc. Dần dà tôi có thêm những người bạn mới ở Liên đoàn địa chất 36 như thế.

Khác với lời cảnh báo của anh Phạm Thận - phiên dịch tiếng Nga, rằng chuyên gia Nga Valôđia (tên gọi thân mật thay cho Vlađimiar) rất nóng tính, hay quát mắng, thì ngay từ buổi đầu làm việc tôi thấy anh ấy trầm tính mà cẩn thận với vẻ ân cần chu đáo hiếm thấy của người anh về chuyên môn đối với đứa em mới ra trường là tôi. Valôđia đang vẽ kiểm tra lại bản đồ cấu tạo Tiên Hưng nơi đang khoan giếng khoan thông số số 1 và giao cho tôi làm tiếp việc này. Công việc vẽ bản đồ đòi hỏi liên tục phải làm phép nội suy giữa các con số để thể hiện các đường đẳng trị. Nội suy giữa 2 con số trên 1 tuyến thì không vấn đề gì, nhưng nội suy giữa cả 1 chuỗi số trên tuyến địa chấn này với cả chuỗi số trên tuyến địa chấn khác lại khá xa nhau để thể hiện được các đường đẳng trị uốn lượn đúng cách ở những chỗ chỉ là giấy trắng trên bản đồ thì trong ngày đầu vẽ bản đồ ấy tôi đã làm rất lúng túng. Thấy vậy Valôđia nhẹ nhàng hướng dẫn tôi cách vẽ các đường đẳng trị đi đúng vị trí cần thiết trên bản đồ tại các vùng trắng ấy. Chẳng mấy chốc tôi và Valôđia cùng nhau dong duổi trên xe ôtô Gaz-69 đít tròn khắp các nẻo đường Hưng Yên-Thái Bình-Nam Định…Tại khoan trường giếng khoan thông số số 1, Valôđia hướng dẫn tôi lắp ráp cái zond đo VSP mà anh ấy đã đặt xưởng cơ khí tại đó gia công các chi tiết. Do không có máy thu sóng chuyên dụng chịu được nhiệt độ cao trong giếng khoan cho nên một khi phải dùng máy thu sóng trên mặt đất thì phải thiết kế chân đế gắn 3 máy thu mắc song song vít chặt như treo trong một ống thép làm ống zond để ít tiếp xúc trực tiếp với thành ống chống của giếng khoan, giảm thiếu tối đa tác động nhiệt độ cao từ thành giếng. Tôi nhớ mãi chi tiết là cáp đo lúc đó chỉ có 2 cặp dây dẫn và do đó cái zond đo chỉ có thể bố trí tối đa 2 nhóm máy thu mà thôi. Vì thế khoảng cách giữa 2 máy thu là 10 mét thì bước đo cho mỗi lần nổ mìn chỉ là 20 mét. Vậy để đo VSP hết 3300 mét độ sâu giếng khoan thông số số 1 thì dùng đến cả một bãi mìn với hơn trăm giếng khoan! Vào tháng 12 năm 1971, tổ đo karôta địa chấn đầu tiên của đoàn 36F gồm các anh Nguyễn Cường Binh (KS. địa chấn), Vũ Ngọc Thạch (KS. địa vật lý), Hoàng Văn Hanh (KS. điện tử bảo trì sửa chữa máy), Trần Đức Thụ (KS. địa vật lý)… cùng chuyên gia Nga Valôđia và tôi từ Liên đoàn đã hoàn thành thắng lợi công việc đo VSP trong giếng khoan sâu đầu tiên ở ĐBSH.

Trở về Liên đoàn bộ ở chợ Gạo vào tháng 1 năm 1972 là dịp tôi được tham gia vào các cuộc họp tổng kết công tác kỹ thuật theo các chuyên đề. Lãnh đạo và cán bộ kỹ thuật từ các đoàn tập trung về Hưng Yên. Tại đây, lần đầu tiên tôi được biết các anh:

- Nguyễn Mạc, Đoàn Thỉnh, Nguyễn Quang Hạp, Đoàn Thiện Tích, Đỗ Văn Hãn, Lưu Hải Thống, Chu Thìn… 36C;

- Nguyễn Trọng Tưởng, Hoàng Thành, Nguyễn Đình Khuông, Đoàn Thám, Đặng Ngọc Bích 36K,

- Tăng Mười, Nguyễn Tấn Kích, Phạm Thế Cầu, Nguyễn Thạnh… 36Đ,

- Nguyễn Hiệp, Phạm Liễu… 36T.

- Đỗ Văn Lưu, Nguyễn Trí Liễn… 36F.

Tôi có ấn tượng mãi với anh Liễn khi gần như trong câu nói nào anh ấy cũng dùng cụm từ “đặc trưng bởi hoặc có đặc trưng…” trong khi trình bày báo cáo kết quả khảo sát địa chấn khúc xạ Miền Võng Hà Nội. Còn anh Đỗ Văn Lưu thì chốc chốc lại “nói chung là, nói chung là…” khi trình bày kết quả khảo sát địa chấn tỉ mỉ vùng Kiến Xương-Tiền Hải. Các anh từ 36C thì không dấu được cái vẻ vừa“hạ sơn”. Có những buổi họp với sự tham gia của chuyên gia Liên Xô thì tiến hành ngay trong khu chuyên gia. Buổi họp thường bị kéo dài do phải dừng lại để dịch sang tiếng Nga hoặc ngược lại. Dịp tổng kết công tác thường kèm theo thi đua mảng văn thể giữa các đơn vị, nổi bật là những trận tranh tài bóng chuyền. Còn nhớ các đội bóng chuyền từ 36F, 36K, 36C chơi bóng có kỹ thuật tốt nhất, đẹp mắt nhất. Đang đứng xem bóng chuyền thì anh Thước, cán bộ chuyên trách công đoàn gọi tôi: Này Quân, vào đây tớ bảo. Tôi theo anh về phòng công đoàn và thấy trong phòng treo rất nhiều cờ thưởng thành tích thi đua viền những tua vàng rất đẹp cùng mấy cây guitar và 1 chiếc đàn phong cầm. Anh Thước vừa cười vừa nói: Tớ nghe nói dạo còn học ở Ba cu cậu từng chơi đàn accordéon vậy cậu thử bài hát chào cờ xem nào. Tôi hơi ngần ngại vì lẽ với âm nhạc mình là nghiệp dư, mặc dù rất yêu thích âm nhạc song đã đi làm nghề chính thì không muốn phân tâm nữa. Dạo học ở trường Dầu cùng với mấy anh em đã mua một cây đàn phong cầm về tập vui chơi giải trí, thỉnh thoảng tham gia biểu diễn văn nghệ trong các đợt du học sinh tập trung kỷ niệm ngày lễ nào đó mà mỗi dịp đó thường dùng cây đàn này tấu bản Quốc ca (Tiến quân ca của NS Văn Cao), chắc là lại có ai đó kể lại với anh Thước rồi - tôi nghĩ thế. Đàn phong cầm là thứ nhạc cụ có khả năng mô tả nhiều phong cách âm nhạc khác nhau, từ nhạc đồng quê tới những bản nhạc trang nghiêm. Hôm nay anh Thước, một người có phong thái làm việc sôi nổi, lạc quan và phải nói thêm là rất lãng mạn nữa, vui vẻ đề nghị như thế thì tôi không dám trái lời anh ấy. Tôi khoác cây đàn lên vai rồi ngồi trên ghế tấu bản Tiến quân ca: Rề mì rề son son, la son sí sí/ La son mì son son mi rê sì rê…Nghe xong anh Thước nói đầy vẻ hài lòng: Được, vậy mỗi khi có đại hội Công đoàn, Đảng…thì cậu kéo đàn bài quốc ca nhé. Ngay cả bây giờ có đầy đủ phương tiện rồi song việc hát tập thể bài Quốc trong những kỳ đại hội cũng không dễ đạt được như mong muốn, thường thì dùng băng cassettes phát bản nhạc này. Bởi thế trong điều kiện khó khăn của thời đó thì việc có “nhạc sống” thể hiện bài Quốc ca trong các kỳ đại hội hay hội nghị tổng kết công tác Công đoàn, Đảng, dù chỉ với cây đàn accordéon thôi cũng đủ “hoành tráng” rồi.

Ngay sau tết năm 1972 đoàn chuyên viên cao cấp từ  Liên Xô sang họp đánh giá tình hình và triển vọng dầu khí của Việt Nam để từ đó xây dựng kế hoạch đầu tư-viện trợ cho ngành dầu khí Việt Nam. Trưởng đoàn là tiến sĩ Markaróv (I.V?). Mấy cuộc họp diễn ra ở Liên đoàn rồi Tổng cục Địa chất tại Hà Nội đánh giá kết quả tìm kiếm thăm dò dầu khí ở Việt Nam đến thời điểm đó. Đoàn cũng dành thời gian đi kháo sát thực địa bồn trũng An Châu, xem xét kết quả giếng khoan Chũ vừa mới kết thúc ở độ sâu gần 1200 mét. Với bồn trũng An Châu tài liệu địa vật lý còn quá ít nhưng sau một vòng khảo sát thực địa và xét thấy mẫu lõi cát kết tuổi Trias có mạch thạch anh trong giếng khoan cấu tạo Chũ thì Markarốv cho rằng đã có dòng nhiệt dịch đi qua đây cho nên nhiều khả năng dầu đã bị phá hủy? Trũng An Châu không còn được xem là có triển vọng dầu khí nữa! Tranh luận về triển vọng dầu khí bồn trũng An Châu cũng không đạt được sự đồng thuận ngay lập tức, nhưng việc đầu tư tìm kiếm thăm dò cho bồn trũng này gần như dừng lại ngay lúc này. Với trũng Hà Nội đoàn chuyên gia Markarốv kết luận: Trũng Hà Nội mới chỉ là “nghiêng hướng tâm Tây Bắc” của bồn trũng Sông Hồng mà thôi. Phần sâu nhất của bồn trũng Sông Hồng là ở giữa vịnh Bắc Bộ! Hướng thăm dò chủ yếu là hướng ra biển vì ở ngoài đó triển vọng dầu khí cao hơn! Tôi cảm thấy cái uy của Markarốv là rất lớn, bao trùm tất cả. Kể từ giờ phút này phương hướng tìm kiếm thăm dò dầu khí trên đất liền ở miền Bắc Việt Nam phải làm theo những kết luận trong báo cáo tổng hợp đánh giá nhanh đầu tư thăm dò dầu khí 2 bồn trũng này. Điều đó có lẽ là đúng nếu như ta liên hệ nó với các phát hiện dầu khí gần đây nhất ở ngoài cửa Ba Lạt!

Hoạt động thăm dò của Liên đoàn địa chất 36 đang tiến triển bình thường thì Mỹ ném bom trở lại miền Bắc. Một chiều chủ nhật giữa tháng tư năm 1972 trong tiếng ầm ào của máy bay Mỹ bỗng có tiếng người nói: Cháy rồi, máy bay rơi. Gần như nhẩy ra khỏi nhà, ra chỗ đất trống giữa Liên đoàn bộ tôi nhìn theo hướng tây bắc mà mọi người đang chỉ tay. Máy bay Mỹ bốc cháy ngùn ngụt đang rơi xuống vị trí trông có vẻ rất gần dốc Suối, cách chợ Gạo chừng 3 km nhưng định thần kỹ lại thì ai cũng thấy là nơi máy bay rơi còn xa, mãi bên kia sông Hồng, phía bắc huyện Duy Tiên, Hà Nam (thực tế còn xa hơn nữa), đối diện với đất Kim Động, Hưng Yên. Trên nền trời trong, một chiếc máy bay gần giống hình máy bay cường kích A-6 của hải quân Mỹ, trông nó nhỏ và khá gọn gàng, dài tầm trên chục mét thôi, có vẻ cũng rất cơ động, biệt danh “khách không mời”, đang lượn vòng, bên dưới lơ lửng một chiếc dù màu đỏ mỗi lúc mỗi rõ hơn. Có tiếng ai đó nói với vẻ thông thạo: Dù màu đỏ thì cấp bậc của phi công phải là đại tá trở lên. “Đi bắt phi công đi!”- có ai đó nói vậy. “Không được đâu, bên kia sông Hồng cơ”-  người khác đáp lại. Một người đứng gần tôi lẩm bẩm: Lạ nhỉ, không nghe thấy tiếng súng cao xạ nào cả mà máy bay lại bị bắn cháy? thì một anh khác nói: không chiến, không chiến mà. Tớ nhìn thấy có máy bay MIG bay cắt ngang đường bay của 2 chiếc A-6 và 1 trong 2 chiếc bốc cháy như thế này! Ai nấy cũng lấy làm tiếc là không được chứng kiến tận mắt một trận không chiến hiếm hoi. Giữa những đối đáp nhát gừng và lộn xộn ai nấy đều hết sức hả hê, thì không một ai để ý 2 chiếc F-4 bay nhanh hơn các loại máy bay khác, bản cánh gần thân khá rộng, trông rất dữ dằn, được mệnh danh là “con ma” từ phía Triều Dương đang phụt khói tăng tốc gầm rú bay qua Liên đoàn bộ về hướng có chiếc dù màu đỏ đang rơi đó. Đoạn 2 chiếc máy bay này vội vã đảo hướng bay trở lại về Thái Bình, hướng biển trong khi chiếc A-6 vẫn ngoan cố lượn vòng ở nơi chiếc dù đỏ đang từ từ rơi xuống. Bỗng 2 chiếc F-4 kia bay trở lại. Lần này chúng bay thật gần chiếc A-6 đang lượn vòng kia rồi cùng bay ngoặt trở lại, hối hả tăng tốc ra hướng biển. Chiếc A-6 kia cũng bỏ vòng bay, tăng tốc theo 2 chiếc F-4 kia. Bầu trời lập tức trở lại tĩnh lặng. Từ buổi đó hầu như đêm nào cũng nhìn thấy ánh lửa của đạn pháo và bom nổ ở mạn Phủ Lý, cách chợ Gạo tầm 20 km theo đường chim bay. Đợt ném bom này có chiến thuật khác hẳn đợt trước 1968: đánh tập trung 1 điểm với rất nhiều máy bay cùng một lúc, và Phủ Lý là điểm nút quan trọng phía nam Hà Nội! Cần nói rõ thêm ở đây là ngay từ những ngày đầu của cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân Mỹ ở miền Bắc nước ta, đã có in hàng loạt tờ hướng dẫn nhận dang đủ loại hình máy bay kèm theo tính năng của chúng để dân quân kịp thời phán đoán đúng loại máy bay kèm theo cách ước lượng độ cao (tốc độ âm thanh trong không khí lấy chuẩn là 330 mét/ giây) mà bắn đón đầu bao nhiêu khẩu độ thân máy bay để đạn trúng đích.

Những ngày tiếp theo, các phòng hoặc nhóm trong Liên đoàn bộ chia nhau sơ tán ra các ngôi chùa hoặc kho bãi để trống của các HTX quanh khu chợ Gạo hay tận bên kia cầu An Tảo để gấp rút hoàn thành những bản vẽ phục vụ cho báo cáo cơ sở địa chất đặt giếng khoan sâu tiếp theo ở ĐBSH (sau khi đóng giếng khoan thông số số 1, về sau anh nguyễn Ngọc Cư đề xuất gọi là giếng khoan 100). Giếng khoan sâu tiếp theo, giếng 102 với TD thiết kế đến độ sâu 3200 mét được đề nghị khoan trên cấu tạo Kiến Xương A- cấu tạo có diện tích khá lớn, chỉ sau cấu tạo Tiên Hưng. Vậy các giếng khoan sâu tiếp theo nữa sẽ lần lượt được khoan trên những cấu tạo nào? Đầu mối công việc tổng hợp bản vẽ, tài liệu là phòng Quản lý sản xuất. Anh Hoài yêu cầu sử dụng tất cả tài liệu địa vật lý dù chỉ 1 điểm đo từ tellua (MTZ) để đánh giá tiềm năng dầu khí của từng cấu tạo. Khâu chuẩn bị bản vẽ mất khá nhiều thời gian vì phải thể hiện trên giấy can bóng mờ để khi dùng thì chồng bản vẽ nọ (địa chấn) lên bản vẽ kia (trọng lực, hay địa hình) vẫn có thể so sánh đánh giá mức độ khép kín của cấu tạo, biên độ cấu tạo...nhằm đưa ra được kết luận cuối cùng có độ tin cậy cao. Một kế hoạch kế hoạch sơ tán triệt để cũng đã được vạch ra. Khi đó tổ công tác dẫn đầu là phòng Kế hoạch (anh Dũng) và phòng hành chính (anh Hựu) lập tức lên đường về hướng Phù Cừ tìm nơi sơ tán. Tại sao lại Phù Cừ chứ không phải hướng nào khác? Đơn giản vì 2 nhẽ, một là quê anh Dũng ở xã Đoàn Đào nên anh ấy biết rất rõ tại khu vực đó làng xã nào có an ninh tốt, là an toàn, làng nào có thể tiếp nhận cán bộ công nhân viên Liên đoàn bộ về sơ tán; hai là di chuyển cơ quan sơ tán theo con đường 39B chạy từ chợ Gạo qua cổng Liên đoàn bộ về hướng Phù Cừ, thông tới Thanh Miện, Gia Lộc ra Hải Dương rất thuận lợi. Qua vài ngày Liên đoàn bộ mới sơ tán được một số bộ phận vì lượng xe dùng để vận chuyển rất hạn chế.

Một đêm, vào tầm khuya khi mọi người đang chìm trong giấc ngủ thì nghe thấy bom nổ rát kèm theo ánh chớp và sóng xung kích làm rung cả vách nhà vì bom rơi quá gần, từ hướng trường sư phạm 10+3. Lát sau, dù tai vẫn còn đang ù tôi nghe thấy tiếng người hỏi vọng từ xa: Ở đây có ai bị sao không? Nếu không việc gì thì đêm tối thế này đừng ra ngoài ngay, có thể vướng bom bi chưa nổ đấy. Đó chính là mấy dân quân trực chiến trong Liên đoàn bộ đang làm nhiệm vụ. Hôm sau, ngay từ sang sớm tốp dân quân trực chiến đi kiểm tra theo hướng bom nổ mới biết là gần như cả chùm bom đêm hôm trước được thả theo chiều từ Đông nam lên Tây bắc (hướng từ biển vào) rơi xuống cánh đồng lúa giữa Liên đoàn bộ và trường sư phạm 10+3, một vài quả rơi gần đường 39, mảnh bom khoét mặt đường 39A vài hố nhỏ không sâu lắm và găm nát mấy thân cây xà cừ ven đường. Người thì đoán là Mỹ ném bom bệnh viện Ấp Dâu, người thì bảo nhằm khu chuyên gia của địa chất, song trượt ra cánh đồng bên cạnh Liên đoàn bộ! Tuy nhiên, trong thực tế những quả bom đầu tiên từ chuỗi bom ấy rơi cách Bệnh viện Ấp Dâu còn khá xa, tầm 800-900 mét trong khi những quả bom tiếp theo nổ chỉ cách Liên đoàn bộ chừng 150 mét thôi! Thế thì giả thiết máy bay Mỹ ném bom khu Liên đoàn bộ Liên đoàn 36 và khu chuyên gia kề bên có vẻ đúng hơn! Ai cũng thấy đó là may mắn nhưng không thấy người nào trong Liên đoàn bộ tỏ ra nao núng hay sợ hãi! Liền trong ngày đó gần như tất cả cán bộ công nhân viên Liên đoàn bộ sơ tán về các nơi theo kế hoạch, chỉ mang theo những tài liệu cần thiết nhất cùng tư trang của mình. Phòng Quản lý sản xuất, phòng Tổng hợp, lãnh đạo Liên đoàn… về làng Ngọc Trúc, xã Minh Hoàng (cách Liên đoàn bộ ở chợ Gạo khoảng 11 km), các phòng ban khác về xã Đoàn Đào bên cạnh (xa hơn 1 km nữa). Cả 2 xã đều thuộc huyện Phù Cừ. Danh sách các nhóm đã lập sẵn rồi cứ thế chia nhau 1 hoặc 2 người vào các nhà dân theo thỏa thuận từ trước với lãnh đạo thôn, xã.

Ngọc Trúc là một làng khá  lớn, có nhiều ao hồ lớn nhỏ giữa làng và gần như biệt lập giữa bốn bề là đồng lúa, không có bất cứ nhà máy công xưởng gì ở gần, vì thế tất cả đều yên tâm bởi, thông thường Mỹ không ném bom vào những nơi như thế. Tôi cùng Nguyễn Văn Thành, kỹ sư trắc địa sơ tán trong một nhà khá rộng nhưng chỉ có 2 bác chủ đã có tuổi và cô út vừa học xong lớp 10, còn các anh con trai của 2 bác chủ hoặc công tác xa hoặc đi bộ đội. Hằng ngày làm việc tại nhà chủ, ăn cơm tập thể tại sân phơi lúa của HTX hoặc chia theo nhóm. Tuy có xáo trộn nhưng mọi người trong Liên đoàn bộ vẫn làm việc bình thường bởi vì mọi công việc phân tích, xử lý, lập bản đồ cấu tạo… đều làm bằng tay, vẫn là máy tính cơ Nisa, thước Lôgarit, cho nên dù có thiếu điện cũng không gây ảnh hưởng đáng kể nào. Lúc đó cũng ít nghe thấy cụm từ “chiến tranh lạnh” (một khi bom nổ cách cơ quan 150 mét thì không ai chấp nhận một khái niệm như thế). Tất cả đều phải làm việc với tinh thần “vì miền Nam ruột thịt”. Suốt từ hè sang thu 1972 từ Ngọc Trúc, Minh Hoàng này chúng tôi vẫn đi công tác bằng xe đạp về tận Kiến Xương, Tiền Hải, Thái Bình theo dõi công tác thí nghiệm tăng chiều sâu nghiên cứu của phương pháp địa chấn phản xạ với trạm ghi sóng mới nhất do đoàn 36F thực hiện với ước muốn ghi được sóng từ mặt móng trước Đệ Tam với độ tin cậy nhất định, mặc cho máy bay Mỹ gần như ngày nào cũng xé trời vùn vụt lao qua, bay sâu vào đất liền. Trong mấy tháng đầu mùa đông 1972 tôi vẫn tiếp tục đạp xe qua lối chợ Thi, Ân Thi về công tác tại đoàn 36F đã sơ tán về thôn Bối Khê, xã Bãi Sậy, huyện Ân Thi để lấy tài liệu tiếp tục hoàn thiện các bản đồ cấu tạo vùng Kiến Xương-Tiền Hải song chúng tôi không cho đó là nhọc nhằn mà chỉ coi là chuyện thường nhật của cuộc sống. Đó chính là thời đại được nhà thơ Chế Lan Viên tổng kết hết sức khái quát trong câu thơ: "Mỗi chú bé đều nằm mơ ngựa sắt/ Mỗi con sông đều muốn hóa Bạch Đằng". Sau này có người ví von rằng đó là thời kỳ chúng tôi “sống và tư duy theo những vòng tròn đồng tâm” thì chúng tôi cũng không tưởng tượng được là: nếu thay vào đó bằng những “đa giác” hay những “ảo giác” thì cuộc sống sẽ thế nào!

Từ tháng 5 năm 1972 Mỹ phong tỏa bờ biển miền Bắc bằng thủy lôi dày đặc, đặc biệt là cảng Hải Phòng, thậm chí các bến phà trong đất liền cũng bị thủy lôi Mỹ rình rập. Không có báo nào đưa tin rõ ràng song vẫn có những mảng tin truyền tai nhau rằng đợt này Mỹ đã chế tạo được bom thông minh-bom laser, hiệu quả tàn phá và sát thương rất cao không kể ngày hay đêm. Nghe nói là cầu Hàm Rồng và cầu Long Biên bị đánh hỏng chính là do loại tên lửa dẫn đường bằng tia laser này (máy bay không cần bay đến gần cầu như chiến dịch ném bom 1964-1968 cho nên pháo phòng không bố trí quanh cây cấu không còn tác dụng nữa). Vẫn từ cái làng Ngọc Trúc, Nguyễn Văn Thành và tôi được lệnh gói ghém các bản đồ cấu tạo, bản đồ địa hình, mặt cắt tổng hợp trong mấy tháng vừa rồi trong tấm áo mưa lên xe ôtô kiểu gas  (gần giống xe U-oát ngày nay nhưng nhỏ hơn) song là loại xe “đít vuông” (lên xuống tự do cả 3 phía) do Rumani sản xuất phụ giúp các anh Phan Minh Bích, Hồ Đắc Hoài…về Thái Bình, qua đường Triều Dương hội cùng các anh Nguyễn Ngọc Cư, Nguyễn Đình Khuông đi dọc đê sông Trà Lý tìm vị trí đặt giếng khoan trên cấu tạo Tiền Hải B. Càng đi gần ra bờ biển càng thấy máy bay Mỹ bay qua nhiều hơn, đôi khi chúng gầm rít tăng tốc ở khoảng cách rất gần, có khi ngay trên đầu song tất cả vẫn bình tĩnh làm việc (chỉ đứng bất động vài phút khi tiếng rít của máy bay quá gần) vì ai cũng biết là chúng chỉ bay qua, mục tiêu ném bom khi đó thường là cầu lớn, ga đường sắt, nhà máy… mà những thứ này ở đây không có. Thường thì chiếc xe ô tô con đó phải dừng dưới các bờ tre để tránh sự nhòm ngó của máy bay, còn mọi người tìm cách đi bộ đến điểm dự kiến đặt giếng khoan sau khi đã đối chiếu từ bản đồ ra thực địa. Đứng trên đê sông Trà Lý mọi người vừa xem bản đồ cấu tạo đã chèn địa hình sông và đường đi theo yêu cầu của anh Hoài vừa đối chiếu với địa hình tại chỗ. Anh Cư đắn đo: nếu đặt giếng khoan bên bờ phải sông thì thuận lợi cho việc vận chuyển thiết bị. Anh Hoài cân nhắc: đặt giếng khoan bên đó thì ra cánh cấu tạo, xa đỉnh quá. Cuối cùng anh Cư cũng thống nhất đặt giếng khoan ngay bãi bồi bờ trái, kiểu như mom sông vừa gần đỉnh cấu tạo vừa tiện lấy nước phục vụ khoan. Cả nhóm lại lên xe đi về hướng Tiền Hải C với một khát khao cháy bỏng: sớm xác định được những vị trí đặt giếng khoan thăm dò mới để tìm thấy dầu khí cho đất nước, bất chấp hiểm nguy bom đạn từ những tốp máy bay F-4 hay  A-6 kia. Điều khó chịu duy nhất lúc đó là phải rất rất hạn chế ánh sáng về đêm vì có cảm giác là đêm nào máy bay Mỹ cũng bay lảng vảng rình rập đâu đó. Còn nhớ đội làm đường trong thị xã Hưng Yên đun thùng nhựa đường (nhỏ thôi) để trộn asphalt vá đường vào lúc nửa đêm gần về sáng khi cho rằng báy bay Mỹ không còn đi ném bom vào giờ này nữa thì liền bị dội bom! Thật là tàn khốc và thương vong là không tránh khỏi. Tin tức chúng tôi nhận được duy nhất qua chương trình thời sự của đài Tiếng nói Việt Nam và báo Nhân Dân đến chậm đôi ngày. Thế nhưng chúng tôi vẫn biết Quảng Trị, Lộc Ninh đã được giải phóng một phần như thế nào, chiến dịch Bắc Tây Nguyên diễn biến ra sao, thậm chí cả tin Henry Kissinger sẽ sang Hà Nội và tin chuẩn bị ký hiệp định Paris vào cuối tháng 10 năm 1972 cũng được truyền tai nhau một cách không chính thức!  Thế rồi thời cơ và hy vọng một lần nữa bị bỏ lỡ.

Trong cái rét ngọt của đêm đông 18 tháng 12 năm 1972 không thể nào quên ấy, từ ngôi làng Ngọc Trúc chúng tôi nghe thấy những tiếng nổ rền liên tục như sấm và chân trời hướng Thủ Đô Hà Nội sáng rực trong khi tiếng máy bay vọng đến lại rất mơ hồ, rất xa. Lúc đầu thấy là lạ song cũng chỉ nghĩ: lại bắt đầu dợt ném bom mới rồi! Mờ sáng hôm sau, trong lúc tôi cùng Thành đi dọc con đường bìa làng ra quán đầu làng tìm thứ gì đó cho bữa sáng thì Thành kêu lên “B52. B52” khi nhìn thấy mấy bó giấy bạc có tua rất nhỏ vướng trên bụi dứa dại ven đường. Thấy tôi còn ngơ ngác chưa tin, nhìn quanh mấy bụi tre Thành chỉ tay rồi tỏ ra rất am hiểu giải thích: Đây là giấy bạc gây nhiễu mỗi khi có B52 oanh tạc. Tối hôm qua tớ nghe thấy tiếng bom nổ rền liên tục rồi tiếng máy bay ù ù rất nhỏ và đều đều tớ đã đoán là B52 rồi. Ở trong khu bốn tớ vẫn hay gặp như thế, mà mấy người lính ở chiến trường miền Nam về cũng kể như thế. Tiếng máy bay rít ầm ầm không đáng sợ bằng khi nghe thấy ù ù nhẹ như thế này đâu. B52 thường ném bom rải thảm nên không có chỗ mà tránh đâu. Tôi chỉ còn biết tròn mắt khâm phục kinh nghiệm của Thành. Quả nhiên ít phút sau trong buổi phát tin thời sự lúc 6 giờ sang Đài tiếng nói Việt nam đã thông báo một tin chấn động: B52 ném bom Hà Nội và các địa điểm quan trọng khác ở miền Bắc. Máy bay B52 bị bắn rơi ở Đông Anh, bắt sống nhiều phi công Mỹ. B52 đã vào oanh tạc Thủ đô Hà Nội-điều trong suốt cuộc chuến tranh phá hoại chưa từng diễn ra, thật là nghiêm trọng quá rồi. Tôi không còn nhớ phát thanh viên đó là ai nữa nhưng vẫn nhớ cái tính chất tố cáo đanh thép, phẫn nộ, căm hờn của giọng đọc nữ khi đọc bản tin này.

Những ngày tiếp theo người của Liên đoàn bộ được lệnh ít đi về thành phố. Hầu như đêm nào B52 cũng đánh phá các cơ sở quan trọng ở bắc vĩ tuyến 20 (bắc Thanh Hóa), không chỉ Hà Nội, Hải Phòng, sân bay Nội Bài mà chúng còn mò lên tận Bắc Giang, Thái Nguyên nữa. Sau đêm Giáng sinh, ở buổi tối tiếp theo nội thành Hà Nội bị B52 ném bom rải thảm tàn phá nặng nề. Dẫu cho đợt ném bom này có ác liệt đến đâu, tất cả đã quen sống trong hy vọng (sống chứ không phải là tồn tại) nên mọi người vẫn làm việc bình thường. Mỗi buổi sáng thức dậy lại lắng nghe bản tin điểm lại những nơi nào đêm qua bị B52 oanh tạc. Ban ngày thỉnh thoảng vẫn thấy máy bay không người lái vụt qua (rất dễ nhận ra loại máy bay do thám này vì nó nhỏ và bay nhanh như cắt). Mọi người truyền nhau kinh nghiệm: ban ngày gặp máy bay không người lái thì đến đêm thế nào máy bay cũng mò vào oanh tạc. Cái biệt danh thứ hai của máy bay A-6 “nighhawk” thật đáng ghét.

Thời gian trôi đi thật chậm. Không ai đoán được tình hình ném bom căng thẳng ác liệt  như thế sẽ đến đâu thì bất ngờ đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam tối 30 tháng 12 truyền đi tin Mỹ ngừng ném bom và đồng ý nối lại đàm phán ở Paris. Rồi cũng không phải chờ đợi lâu, chúng tôi cảm thấy những sự kiện xẩy ra sau đó thật nhanh, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Viêt Nam được ký kết vào ngày 27 tháng giêng năm 1973. Rời nơi sơ tán lần lượt chúng tôi trở về trụ sở cơ quan ở chợ Gạo. Đài Tiếng nói Việt nam phát liên tục bài hát “Đường chúng ta đi” (của NS Huy Du, lời phổ thơ Xuân Sách, sau này mới thêm chữ Việt Nam) với giai điệu hết sức sáng láng cao sang, hết sức hào hùng, trang trọng, qua giọng ca mới lạ chưa từng biết đến: nghệ sĩ Doãn Tần (bây giờ đã là nghệ sĩ Nhân Dân). Bài hát mở đầu bằng một tiếng ngân hào sảng: Việt nam! Việt nam trên đường chúng ta đi/ nghe gió thổi đồng xanh quê ta đó/ nghe sóng biển ầm vang xa tận tới chân trời…. Có thể do vì, ngoài không khí phấn khởi vừa mới chiến thắng B52, giọng hát đặc biệt của Doãn Tần cũng góp phần làm cho bài hát này ăn sâu vào lòng người. Thời đó hệ thống truyền thanh qua loa công cộng, loại loa điện động công suất lớn vỏ sắt nghe rất “đanh” đã tương đối phổ biến ở các cơ quan nhà nước cho nên dù là đang trên  đường đi ta vẫn có thể nghe thấy tiếng hát hoặc là từ loa của cơ quan này, hoặc là từ loa của cơ quan khác làm cho giai điệu bài hát như trải rộng mãi ra không gian rộng lớn tạo cảm giác liên tục, rừng rực cháy bỏng trong trái tim mỗi người Việt nam ngày ấy. Cho đến hôm nay nếu nghe lại bài hát này tôi vẫn thích nghe bản thu âm với giọng hát Doãn Tần ngày đó, không phải vì lúc mới vào đời anh ấy cũng là dân địa chất nhà mình.

Một không khí chiến thắng hồ hởi tràn ngập khắp nơi. Công tác chuyên môn tại Liên đoàn bộ càng được đẩy mạnh, lấy thành tích mừng chiến thắng. Anh Nguyễn Công Sứ, cao cấp toán, người có khả năng sư phạm tốt, chủ trì lớp học nâng cao kiến thức toán thống kê. Các khái niệm cơ bản về bình phương tối thiểu, luật số lớn…được anh ấy giải thích tỉ mỉ, cặn kẽ cho số anh em địa chất, địa vật lý chưa học qua môn này. Anh Thước, cán bộ chuyên trách công tác công đoàn đề nghị đoàn thanh niên đẩy mạnh hoạt đông văn nghệ mừng chiến thắng và phục vụ đại hội Công đoàn, đại hội Đảng Liên đoàn bộ. Chúng tôi vô cùng háo hức chuẩn bị mừng chiến thắng. Mỗi tối anh chị em có năng khiếu văn nghệ tập hợp nhau ở phòng làm việc để tập hát những bài hát mới nhất (Bài ca Đường Chín chiến thắng, Tiếng hát trên Gio Cam giải phóng, Cô gái mở đường, Chào Đường Chín anh hùng… Qúy vị nào quan tâm đến những giai điệu đẹp của những bài hat này xin truy cập trang web: nhaccachmang.net hoặc tra qua google “những bài hát hay VOV”). Với một số bài đồng ca thì anh Thước kéo đàn phong cầm, còn tôi  giữ nhịp bằng cây đàn guitare. Thủ tục chào cờ mở đầu đại hội Đảng, Công đoàn  thì anh Thước giao cho tôi thể hiện bản nhạc Tiến quân ca  bằng cây đàn accordéon. Sau lời khai mạc đến mục Đoàn thanh niên chào mừng Đại hội bằng các tiết mục hát đơn ca, đồng ca. Lần đó anh Bảo ở phòng kế hoạch hát “Đường chúng ta đi”, Bích Việt hát “Người con gái sông La”, Bình Nhưỡng thể hiện “Đất quê ta mênh mông” và “Miền Nam nhớ mãi ơn Người”. Lại những trận thi đấu bóng chuyền giữa các đơn vị cơ sở toàn Liên đoàn và đợt này đội bóng chuyền đoàn 36F đoạt giải nhất.

Những cuộc họp tập trung bàn triển khai  phương hướng thăm dò ra phía biển gồm tăng cường khảo sát địa chấn vùng Giao Thủy - Biển nông, Tiền Hải - Đông Hoàng, Diêm Điền - Thái Thụy. Đặt vấn đề sớm đưa vào sản xuất khảo sát địa chấn Điểm sâu chung vì địa chấn thường không giải quyết được chiều sâu khảo sát, trong đó chú trọng đầu tư kỹ thuật ghi số…Đến giữa năm 1973 Liên đoàn 36 một lần nữa tái cấu trúc lại: bộ máy quản lý và nghiệp vụ Liên đoàn bộ chuyển về Thái Bình điều hành Đoàn 36K và 36S vừa sáp nhập lại, vẫn giữ tên Liên đoàn địa chất 36; phòng hóa, phòng Tổng hợp; tổ thông tin - thư viện - lưu trữ; bộ phận giao tế phục vụ chuyên gia cùng một số CB, KS 36C sáp nhập thành lập Đoàn nghiên cứu chuyên đề dầu khí 36B - tiền thân của Viện Dầu Khí (VPI) ngày nay (chiếm 1/3 khu đất Liên đoàn bộ cũ);

các đoàn 36F, 36Đ, 36T sáp nhập thành Đoàn Địa vật lý (chiếm 2/3 khu Liên đoàn bộ cũ).

Tất cả các đoàn, kể cả Viện Dầu Khí mới hình thành sau sáp nhập này đều trực thuộc Tổng cục Địa chất. Riêng đoàn 36C nay thuộc Tổng cục địa chất, vẫn giữ phiên hiệu cũ, nghiên cứu dộc lập cả vùng núi Tây Bắc (đề án Nậm Ún - Sài Lương). Người viết những dòng này chuyển về Đoàn Địa vật lý theo đuổi chuyên môn của mình. Và như ai đó đã nói: trong cuộc sống, có những điều tưởng như rất vô ích, nhưng những việc ấy đôi khi lại giúp chúng ta trong những khoảnh khắc bất chợt nào đó. Và khoảnh khắc ấy có thể làm thay đổi cả cuộc đời.

Hà nội, tiết lập hạ năm Canh Dần, HQQ