Trên tờ báo tường kỷ niệm 5 năm ngày hạ thủy tàu khoan dầu – khí biển mang tên nhà bác học Nga vĩ đại Mi-kha-in Mir-chink, còn lưu lại trong câu lạc bộ của tàu, tôi đọc được những dòng sau đây của tác giả Ghe-ra-xi-men-cô, Chánh địa chất tàu M.Mir-chink:

… Chúng ta đang kết thúc giếng khoan thứ 5 kể từ ngày hạ thủy (29.9.1982), trong đó có 4 giếng khoan ở biển thềm lục địa Việt Nam với việc khẳng định sự có mặt của dầu mỏ Bạch Hổ và đã phát hiện ra mỏ dầu mới ở cấu tạo Rồng. Lần đầu tiên, ngày 26 tháng 5 năm 1984, tàu M.Mir-chink của chúng ta đốt thử dầu ở giếng Rồng-1, đã được đông đảo các bạn Việt Nam đặt cho tên mới là "Rồng lửa M.Mir-chink".

… Do đạt được nhiều thành tích xuất sắc trong lao động, cán bộ, công nhân viên tàu M.Mir-chink được nhận phần thưởng cao quý của Nhà nước CHXHCN Việt Nam – Huân chương Lao động hạng nhì…

Buổi lễ trao tặng Huân chương Lao động trên biển diễn ra long trọng ngay trong câu lạc bộ của tàu. Khi đồng chí Phan Tử Quang, được sự ủy nhiệm của hợp đồng Nhà nước Việt Nam trao tặng tấm Huân chương Lao động hạng nhì lồng trong khung kính cho Trưởng tàu Jan An-đrây-ê-vich, tất cả mọi người đứng bật dậy, vỗ tay nhiệt liệt và hô vang: U-ra (hoan hô). Jan An-đrây-ê-vich cảm ơn và ôm thắm thiết các đồng chí Phan Tử Quang, Nguyễn Ngọc Sơn, Nguyễn Ngọc Cư và các vị tháp tùng.

Tấm Huân chương được treo trên tường, ở vị trí trang trọng nhất của Câu lạc bộ trên tàu M.Mir-chink. Vào buổi trưa hôm ấy, giữa phòng ăn của tàu nổi lên lộng lẫy, bẫy. Giữa ngồn ngộn sắt thép, không một màu xanh cây cỏ, hoa tươi trên biển cả quý vô cùng…

Thời gian trôi qua…

Bây giờ tàu M.Mir-chink đang khoan giếng khoan thứ 6 mang tên Rồng-3. Quả thật, các tàu tìm dầu – khí khoan giếng nào cũng may mắn gặp dầu như M.Mir-chink quả là hiếm hoi trên thế giới.

Jan An-đrây-ê-vich có lần nói với tôi: "Liên Xô có ba kiểu tàu khoan như thế này, nghĩa là đều có khoan sâu tới 6 nghìn mét, nhưng chỉ có M.Mir-chink là gặp may mắn nhất…". Theo tài liệu Jan An-đrây-ê-vich cung cấp, chúng tôi được biết tàu dài 150 m, rộng 24 m, có tháp khoan cao 61 m; công suất của tàu tới 1640 ki-lô-oát và di chuyển được 24 km/giờ nếu cần chuyển sang địa điểm mới. Cả ba tàu đặc biệt này đều có thiết kế dành riêng cho công tác khoan biển. Bởi vậy, nếu đặt tàu nằm nghiêng, sẽ thấy ở giữa tàu một khoảng trống hình vuông, mỗi chiều 5m không đóng đáy. Đây sẽ là vùng hoạt động của các ống định hướng mà qua các ống này, cần khoan quay để cắm mũi khoan vào lòng đất. Vì góc nghiêng cho phép của ống định hướng chỉ được dao động trong khoảng từ 3 đến 5 độ, nên khi mực nước biển càng sâu, thì độ ổn định của tàu càng tốt hơn, tốt nhất là ở những vùng biển có độ sâu tới 200m.

Trên biển vùng mỏ Bạch Hổ, thềm lục địa Nam Việt Nam, nơi tiến hành công tác thăm dò và khai thác dầu-khí, mực nước chỉ sâu cỡ dăm bảy chục mét, ống định hướng ngắn, nên khi tàu bị sóng xô lệch đi một chút thôi cũng dễ gây ra sự cố. Bởi vậy, giữ cho tàu cố định là việc làm trước hết và thường xuyên đối với tàu khoan. Nhờ hệ thống định vị vô tuyến, mà các thủy thủ trên tàu kiểm tra được độ lệch của tàu so với tọa độ quy định và nhanh chóng định vị lại nó. Nhưng tọa độ trên bản đồ được xác định chỉ bằng một điểm (mũi khoan), nên hai đầu của tàu được xoay quanh trụ là cần khoan theo chiều gió, như hai đầu nam châm.

Dạo ấy, tàu khoan giếng BH-6, chúng tôi được chứng kiến nhiều cảnh thú vị khi nhìn qua cửa sổ phòng ở của mình. Ban mai đón nắng mặt trời, thấy rất rõ giàn khoan Ê-KHA-BI đang nhấc tấm thân khổng lồ hơn trăm ngàn tấn lên khỏi mặt nước một cách nhẹ nhàng trên ba càng vững chãi ở phía Đông; thế mà quá trưa, gió đổi hướng đã đưa tầm nhìn sang phía Đông – Bắc, nơi giàn khoan khai thác MSP – 3 đang cho đốt cháy cùng lúc hai ngọn pha-ken rừng rực, cạnh đó là các cần cẩu hạng nặng I-spô-lin và Ti-tan đang hoạt động tích cực để lắp đặt thêm giàn khoan số 4, nơi liên tục sáng lên những ngọn núi lửa hàn màu tím. Chiều đến, cửa sổ phòng chúng tôi quay về phía Tây-Nam, nên thấy rõ tàu Crưm sừng sững cạnh giàn khai thác số 1 và ngọn lửa sáng chói nơi này… Không chỉ xoay quanh, tàu Mir-chink còn nhấp nhô bập bênh qua trụ. Biển hơi gợn sóng, lập tức tầm nhìn được nâng lên hoặc hạ xuống, làm cho mặt biển như có lúc dềnh lên, khiến mây trời có vẻ lang thang hơn, chứ không xuôi theo một chiều, và vì thế các ngọn lửa khai thác dầu cũng mang vẻ huyền ảo hơn vào lúc chập tối…

Bẵng đi mấy tháng bận công việc không ra được tàu khoan, nay trở lại tôi thấy mình ngỡ ngàng đôi chút. "Rồng lửa M.Mir-chink" nằm kia đang dập dềnh theo sóng, đã được quét sơn trắng xóa thay cho màu sơn cũ đã ố vàng. Vẫn những gương mặt, những người quen cũ mà sao giờ thấy đăm chiêu hơn…

Jan An-đrây-ê-vich hỏi ngay khi tôi vừa bước xuống chân cầu thang máy bay:

– Sao, có đem được thực phẩm ra không đấy? Tôi gật đầu, vì thấy có mấy bao khoai tây hay dưa leo gì đấy nằm chình ình giữa sàn máy bay…

Sau khi hỏi thăm qua loa công việc, anh kéo tôi vào ngay Trạm địa – vật lý, nơi Đet-đôv đang ghi chép các số liệu vào đầu băng karôta. Tiếng máy phát điện ầm ầm, máy khoan quay rộn ràng, tiếng người điều khiển công việc trên giàn khoan qua hệ thống loa phát thanh nghe nhát gừng, dứt khoát. Tôi chào mọi người, rồi mời họ hút thuốc Đà Lạt và vui vẻ tham gia việc xác định vỉa sản phẩm. Chuông điện thoại réo lên gắt gao. Từ đầu dây bên kia Ghe-ra-xi-men-cô bảo đang cần tài liệu chuẩn để liên kết với chiều sâu mẫu lõi. Chúng tôi cùng về phòng kỹ thuật, nơi mọi người đang xúm vào xem các mẫu cát kết chứa dầu…

Chập tối, tôi cùng Ghe-ra-xi-men-cô lên tầng thượng dạo chơi. Ông chỉ cho tôi ráng chiều bừng cháy phương Tây, còn tôi mải mê ngắm vầng trăng tròn trịa, hiền dịu phương Đông. Thật bất ngờ, sau đó cả hai cùng đăm chiêu nhìn về ngọn lửa hồng đang bừng lên rực rỡ trong gió chiều ở phương Bắc. "Xa lắm đấy, hơn 10 phút bay…" Ông nhắc khẽ, còn tôi, vẫn với niềm tin thuở ban đầu, trình bày với ông một "Kế hoạch" hẳn hoi: Nơi có những ngọn lửa khai thác dầu trên các giàn khoan ở mỏ Bạch Hổ sẽ là thành phố trung tâm. Sẽ có thêm nhiều nhà cửa, chợ búa, cầu treo nhẹ nhàng, xe cộ tấp nập. Còn chỗ chúng ta đứng đây sẽ là một trong các thành phố vệ tinh…

Ông đồng ý rất nhanh và khoái chí vỗ lên vai tôi:

– Khơ-ra-sô (được, được lắm).

Rồi như điểm lại chặng đường đã qua, ông bảo đây là mùa xuân thứ tư ông xa Tổ quốc. Giọng ông trầm trầm, nghe cảm động quá chừng: "Gần một vạn rưỡi mét khoan đạt được của tàu Mir-chink mình đã cẩn thận theo dõi đến từng chi tiết, nhưng bây giờ đã già rồi, cũng như Jan An-đrây-ê-vich, mình sẽ nghỉ hưu trong thời gian tới…".

– Bạn này, liệu sẽ có bao nhiêu thành phố vệ tinh trên vùng biển này nhỉ?

Tôi quơ tay một vòng, trả lời ông:

– Biển thềm lục địa Việt Nam rộng lớn, chưa thăm dò hết, thì làm sao biết được sẽ có bao nhiêu thành phố mọc lên. Nhưng nếu nơi này có thành phố, chắc nó phải mang tên Rồng lửa M.Mir-chink…

Hơn 5 năm đã trôi qua, kể từ ngày hạ thủy, tàu M.Mir-chink đi từ Mur-mansk về Xa-kha-lin, tưởng yên phận làm dân xứ lạnh, nào ngờ sang đón mùa xuân ở vùng nhiệt đới. Tàu còn trẻ lắm bởi thiết bị hiện đại và ngọn lửa nhiệt tình của những người đang lao động nơi đây nhằm hướng về sự phồn vinh của một dân tộc anh em. Những người thợ đầu tiên có mặt trên tàu giờ đã trở thành cựu chiến binh. Trưởng tàu Jan An-đrây-ê-vich nghỉ hưu, người phó của ông – Va-le-ri Phê-đô-rô-vich lên thay thế. Có người già đi, sắp phải rời M.Mir-chink thân yêu, số đông còn lại như: thợ điện Xmô-li-a-kôv, Cu-lia-côv, các kỹ sư Praj-nhi-côv, Me-sa-kin, Se-lê-pe, Kar-xev… đang là nòng cốt của tàu với đội ngũ ngày càng được trẻ hóa dần.

Năm Rồng sắp đến với mọi người cùng với công cuộc đổi mới từ trong tâm khảm. Với chúng tôi, đây sẽ là năm thắng lợi, vì đang cưỡi trên "Rồng lửa M.Mir-chink" đi tìm dầu mỏ cho Tổ quốc. Bởi vậy, chúng tôi tin, như bao người đang tin một cách chắc chắn rằng: với tình anh em hữu nghị Việt-Xô, chúng ta sẽ dựng xong thành phố nổi và nhiều thành phố vệ tinh khác, trong đó hẳn có một thành phố mang tên Rồng lửa M.Mir-chink.

Và xin "chúc các đồng chí trong tập thể CBCNV tàu khoan dầu – khí biển M.Mir-chink sức khỏe, hạnh phúc, đạt nhiều thành tích trong công cuộc phát triển ngành dầu-khí Việt Nam" như lời trong bức điện mà đồng chí Nguyễn Ngọc Cư, Phó Tổng giám đốc thứ nhất XNLDDK Việt-Xô đã gửi cho tàu.

M.Mir-chink – Vũng Tàu,
Những ngày cuối năm Mão, 1987